Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 06 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Tâm – Chủ tịch Hội nông dân thành phố Châu Đốc.

Bà Huỳnh Thoại My My – Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 11/TB-TA ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Mách Văn T, sinh ngày 05/5/2007 tại thị xã T, tỉnh An Giang, nơi cư trú: ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Chăm; giới tính: nam; tôn giáo: Hồi giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mách P (đã chết) và Trần Thị G, sinh năm 1986; anh chị em ruột co 05 người, bị cáo là người thứ hai.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/02/2024 đến nay, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trần Thị K, sinh năm 1955; nơi cư trú: ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Hồ Bích H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A, có mặt.

Bị hại: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Bạch L, sinh năm 1969; nơi cư trú: khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trần Phước T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A, có mặt.

Người làm chứng: Trần Văn B, sinh năm 1942, Trương Quốc B1, sinh năm 1982, Huỳnh Thanh D, sinh năm 1978, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 26/7/2023, Mách Văn T (sinh ngày 05/5/2007) đi bộ theo lề đường Tân Lộ Kiều L1 hướng từ Núi Sam đến chợ C, để bán vé số. Đến khu vực đối diện Siêu thị Đ thuộc tổ A, khóm C, phường C, thành phố C thì T thấy anh Nguyễn Văn H1 bị mù đang ngồi một mình trên lề đường trên tay cầm nhiều tờ vé số kiến thiết để bán. T nảy sinh ý định chiếm đoạt vé số của anh H1 nên T đi nhẹ lại gần, ngồi đối diện bên trái anh H1 rồi dùng tay phải giật lấy cọc vé số trên tay anh H1, anh H1 giật lại được 01 tờ và tri hô, T bỏ chạy thì bị anh Trương Quốc B1 và anh Huỳnh Thành D1 ở gần đó truy đuổi và bắt giữ T cùng tang vật đưa đến Công an phường C.

Vật chứng thu giữ: 01 tờ vé số kiến thiết thành phố Cần Thơ, mở thưởng ngày 26/7/2023, ký hiệu K4T7, số 449187, mệnh giá 10.000 đồng (do Nguyễn Văn H1 giao nộp).

Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 730b/KL-ĐG ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 08 tờ vé số kiến thiết thành phố Cần Thơ mở ngày 26/7/2023 (thứ tư) loại K4T7, mệnh giá 10.000 đồng, giá trị thành tiền 9.000 đồng/vé × 08 vé là 72.000 đồng.

Căn cứ Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 6257/KLGDĐT-C09B ngày 13/10/2023 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận độ tuổi của Mách Văn T: Tại thời điểm giám định (tháng 9/2023), có độ tuổi từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C ban hành Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mách Văn T về hành vi “Cướp giật tài sản".

Cáo trạng số 58/CT-VKSCĐ-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Mách Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự 2015).

Tại phiên tòa

Bị cáo Mách Văn T, người đại diện hợp pháp của bị cáo bà Trần Thị K cung cấp lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Bị hại, những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Mách Văn T. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt chính: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 90; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Mách Văn T từ 01 năm đến 02 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”.
  • - Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy: 01 tờ vé số kiến thiết thành phố Cần Thơ, mở thưởng ngày 26/7/2023, ký hiệu K4T7, số 449187, mệnh giá 10.000 đồng.
  • - Về trách nhiệm dân sự: không.

Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo bà Lê Hồ Bích H: thống nhất về tội danh truy tố của Viện kiểm sát; yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại ông Trần Phước T1: thống nhất tội danh và quan điểm của Viện kiểm sát, tài sản bị hại đã nhận lại không yêu cầu trách nhiệm dân sự, yêu cầu xử lý hình sự theo quy định pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: bà Trần Thị K, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Mách Văn T khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ thực hiện, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định:

Vào ngày 26/7/2023, tại khu vực tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, bị cáo Mách Văn T có hành vi giật 08 (tám) tờ vé số của Nguyễn Văn H1, tổng giá trị 72.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 730b/KL-ĐG ngày 20/9/2023).

Bị cáo Mách Văn T đã có hành vi giật vé số của bị hại Nguyễn Văn H1 một cách nhanh chóng nhằm để chiếm đoạt 08 tờ vé số của bị hại. Nguyễn Văn H1 là người mù, mất toàn phần khả năng nhìn, không có khả năng tự vệ, bị cáo có đủ ý thức trách nhiệm hành vi, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; do đó hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội đối với người không có khả năng tự vệ” được quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra, để đáp ứng yêu cầu giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi nên cần áp dụng những quy định chung về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại các Điều 12, 90, 91, 98 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Về mức hình phạt, căn cứ khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự để xem xét mức hình phạt đối với bị cáo là không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định nên không áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không có tiền án tiền sự, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế.

Mặc khác, bị cáo là người chưa thành niên, người dân tộc (Chăm), cha bị cáo đã chết, mẹ bị cáo đi làm ăn xa không trực tiếp chăm sóc nuôi dạy, bị cáo ở cùng bà ngoại là bà Trần Thị K, do hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo nghỉ học và đi bán vé số để lo cho bà ngoại cùng người thân trong gia đình. Hiện tại bà K bệnh tật thường xuyên không còn khả năng lao động, nguồn thu nhập chính trong gia đình nhờ vào nguồn bán vé số của bị cáo T và anh trai là K1 (Biên bản xác minh ngày 10/8/2023 của Công an thành phố C, BL:36).

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Hơn nữa, nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của họ và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội; xét thấy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trận tự, an toàn xã hội. Căn cứ khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự; các quy định tại Điều 2, Điều 4 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 thì vẫn đảm bảo chấp hành hình phạt có điều kiện bằng án treo cho bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là có căn cứ và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.

[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: 01 (một) tờ vé số kiến thiết thành phố Cần Thơ, mở thưởng ngày 26/7/2023, ký hiệu K4T7, số 449187, mệnh giá 10.000 đồng, không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xử lý.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 12, Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022:

    Tuyên bố bị cáo Mách Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”;

    Xử phạt bị cáo Mách Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án 06/8/2024 (ngày sáu, tháng tám, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

    Giao bị cáo Mách Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã T, tỉnh An Giang để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) tờ vé số kiến thiết thành phố Cần Thơ:, mệnh giá 10.000 đồng, loại K4T7, số:449187, mở thưởng ngày 26/7/2023.

    (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

  3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Mách Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa kể từ khi bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND tỉnh An Giang (1);
  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Mách Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger