|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06/6/2024
Về việc: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Em
- Ông Nguyễn Đông Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 06/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2024 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/5/2024 giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu S, sinh năm: 1994
- Bị đơn: Anh Đào Văn T, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
(Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu S trình bày: Chị Nguyễn Thị Thu S và anh Đào Văn T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm cuộc sống không còn hạnh phúc. Anh chị đã ly thân từ năm 2013 đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đào Văn T.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Đào Minh P, sinh ngày 01/01/2014, đang sống với chị Nguyễn Thị Thu S. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị Thu S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có nợ ai và cũng không có cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 23/5/2024 bị đơn anh Đào Văn T trình bày:
Anh Đào Văn T và chị Nguyễn Thị Thu S tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn. Thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau. Nay chị Nguyễn Thị Thu S yêu cầu ly hôn với anh thống nhất.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung Đào Minh P, sinh ngày 01/01/2014, đang sống với chị Nguyễn Thị Thu S. Khi ly hôn anh tự nguyện giao con cho chị Nguyễn Thị Thu S tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có nợ ai và cũng không có cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Thu S đã nộp cho Tòa án trích lục kết hôn, bản sao căn cước công dân, trích lục giấy khai sinh, đơn xin xác nhận, đơn yêu cầu vắng mặt. Anh Đào Văn T đã nộp cho Tòa án bản phô tô căn cước công dân, bản tự khai, đơn yêu cầu vắng mặt.
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với chị Nguyễn Thị Thu S và anh Đào Văn T có yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thu S và anh Đào Văn T theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu S và anh Đào Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tạo điều kiện để cho chị Nguyễn Thị Thu S và anh Đào Văn T hòa giải với nhau nhưng không mang lại kết quả. Xét thấy hôn nhân phải dựa trên sự tự
nguyện và phải có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nhưng đối với hôn nhân của chị Nguyễn Thị Thu S và anh Đào Văn T đã phát sinh mâu thuẫn và không còn sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Chị Nguyễn Thị Thu S và anh Đào Văn T đã ly thân với nhau và thống nhất ly hôn. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị Thu S được ly hôn với anh Đào Văn T.
[3]. Về con chung: Hiện nay con chung là cháu Đào Minh P đang sống cùng mẹ là chị Nguyễn Thị Thu S và chị Nguyễn Thị Thu S yêu cầu tiếp tục nuôi con. Anh Đào Văn T cũng tự nguyện giao con cho chị Nguyễn Thị Thu S nuôi dưỡng. Yêu cầu của anh chị phù hợp với nguyện vọng của cháu Đào Minh P nên Hội đồng xử xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu S và ý kiến của anh Đào Văn T. Giao cháu Đào Minh P cho chị Nguyễn Thị Thu S tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh Đào Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[4]. Do chị Nguyễn Thị Thu S không có yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi có yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu S có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Về tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Đương sự còn phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án và được kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, 6, khoản 1 Điều 28, 35, 39, 91, 271, 273, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu S, chị Nguyễn Thị Thu S được ly hôn với anh Đào Văn T.
- Về con chung: Giao con chung tên Đào Minh P, sinh ngày 01/01/2014 cho chị Nguyễn Thị Thu S trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đào Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu S phải nộp số tiền là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu tiền số 0008656 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy thành án phí, chị Nguyễn Thị Thu S không phải nộp thêm.
Anh Đào Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Mỹ Trúc |
Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang về ly hôn
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn, giao con chung cho NĐ nuôi dưỡng
