Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:78/2024/HS-ST

Ngày 5-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Trúc Hoa

    Ông Lã Anh Tuấn

  • - Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 5 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 5 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 41/2024/HSST-QĐ ngày 18/6/2024 đối với bị cáo:

Ngô Trung D, sinh ngày 11 tháng 8 năm 1989 tại Hải Phòng, nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1; vợ là Đỗ Thị B; có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023; áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 5/01/2024; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần S, sinh năm 1988, nơi cư trú: Tổ A, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

2. Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1987, nơi cư trú: Số A đường Đ, tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng, có mặt.

Người làm chứng: Anh Bùi Đặng H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 20 giờ 50 phút ngày 27/12/2023, tại quán C ở số F T, phường Q, quận K, Hải Phòng, Đ Công an quận K tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Trung D khi đang có hành vi thu tiền lãi đối với anh Trần S, sinh năm 1988, nơi cư trú: tổ A phường L, quận K, thành phố Hải Phòng. Tại thời điểm này có mặt Đỗ Thị B, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng (là vợ của D); Bùi Đặng H, sinh năm 1981, nơi cư trú: số 6 lô 81, TDP D phường C, quận H, Hải Phòng; Phạm Văn H1, sinh năm 1994, nơi cư trú: số G 207 T2 phường T, quận H, Hải Phòng; Trần Ngọc A, sinh năm 1989, nơi cư trú: Ngõ I phường P, quận D, Hải Phòng và Trần Sinh . Lực lượng chức năng đã thu giữ: 01 tờ giấy vay nợ giữa Ngô Trung DTrần S cùng số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Quá trình điều tra chứng minh được từ 11/3/2023 đến ngày 20/5/2023, Ngô Trung D đã cho anh Trần S vay tiền với mức lãi suất từ 132,4%/ năm đến 304,2%/năm, cụ thể như sau:

+ Lần thứ nhất: ngày 11/3/2023, D cho anh S vay số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng trong thời gian 30 ngày, số tiền lãi là 3.000.000 (ba triệu đồng), tương ứng với mức lãi suất là 182,5%/năm. D thu tiền lãi trước và chuyển lại cho anh S số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng. Do chưa trả tiền gốc nên ngày 15/4/2023, anh S đóng lãi lần thứ hai với số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng. Ngày 28/4/2023, S đã tất toán khoản vay. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 657.534 (sáu trăm năm bảy nghìn năm trăm ba tư) đồng). Số tiền thu lợi bất chính của D là 5.342.466 (năm triệu ba trăm bốn hai nghìn bốn trăm sáu sáu) đồng.

+ Lần thứ 2: ngày 20/3/2023, D cho anh S vay số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng trong thời gian 30 ngày, số tiền lãi là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng tương ứng với mức lãi suất là 182,5%/năm. D thu tiền lãi trước và chuyển lại cho anh S số tiền 8.500.000 (tám triệu năm trăm nghìn) đồng. Do chưa trả tiền gốc nên ngày 21/4/2023, anh S đóng lãi lần thứ hai với số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng. Ngày 28/4/2023, anh S đã tất toán khoản vay. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 328.767 (ba trăm hai tám nghìn bảy trăm sáu bảy) đồng. Số tiền thu lợi bất chính của D là 2.671.233 đồng (hai triệu sáu trăm bảy mốt nghìn hai trăm ba mươi ba) đồng.

+ Lần thứ 3: ngày 21/3/2023, D cho anh S vay số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng trong thời gian 20 ngày, số tiền lãi là 5.000.000 (năm triệu) đồng tương ứng với mức lãi suất là 304,2%/năm. D thu tiền lãi trước và chuyển lại cho anh S số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng. Ngày 10/4/2023, anh S đã tất toán khoản vay. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 328.767 (ba trăm hai tám nghìn bảy trăm sáu bảy) đồng. Số tiền thu lợi bất chính của D là 4.671.233 (bốn triệu sáu trăm bảy mốt nghìn hai trăm ba mươi ba) đồng.

+ Lần thứ 4: ngày 15/4/2023, D cho anh S vay số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng trong thời gian 30 ngày, số tiền lãi là 3.000.000 (ba triệu) đồng tương ứng với mức lãi suất là 182,5%/năm. D thu tiền lãi trước và thu thêm số tiền lãi 3.000.000 (ba triệu) đồng của khoản vay ngày 11/3/2023 nên D đã chuyển lại cho anh S số tiền 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng. Ngày 28/4/2023, anh S đã tất toán khoản vay. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 328.767 (ba trăm hai tám nghìn bảy trăm sáu bảy) đồng. Số tiền thu lợi bất chính của D là 2.671.233 (hai triệu sáu trăm bảy mốt nghìn hai trăm ba mươi ba) đồng.

+ Lần thứ 5: ngày 03/5/2023, D cho anh S vay số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng trong thời gian 15 ngày, số tiền lãi là 3.750.000 (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tương ứng với mức lãi suất là 182,5%/năm. D thu tiền lãi trước và chuyển lại cho anh S số tiền 46.250.000 (bốn mươi sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng. Anh S chưa tất toán khoản vay. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 410.959 (bốn trăm mười nghìn chín trăm năm chín) đồng. Số tiền thu lợi bất chính của D là 3.339.041 (ba triệu ba trăm ba chín nghìn không trăm bốn mốt) đồng.

+ Lần thứ 6: ngày 17/5/2023, D cho anh S vay số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng trong thời gian 15 ngày, số tiền lãi là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng tương ứng với mức lãi suất là 182,5%/năm. D thu tiền lãi trước và chuyển lại cho anh S số tiền 18.500.000 (mười tám triệu năm trăm nghìn) đồng. Anh S chưa tất toán khoản vay. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 164.384 (một trăm sáu tư nghìn ba trăm tám mươi tư) đồng. Số tiền thu lợi bất chính của D là 1.335.616 (một triệu ba trăm ba lăm nghìn sáu trăm mười sáu) đồng.

+ Lần thứ 7: ngày 20/5/2023, D cho anh S vay số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng trong thời gian 15 ngày, số tiền lãi là 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn) đồng tương ứng với mức lãi suất là 194,7%/năm. D thu tiền lãi trước và chuyển lại cho anh S số tiền 27.600.000 (hai mươi bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng. Anh S chưa tất toán khoản vay. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 246.575 (hai trăm bốn sáu nghìn năm trăm bảy lăm) đồng. Số tiền thu lợi bất chính của D là 2.153.425 (hai triệu một trăm năm ba nghìn bốn trăm hai lăm) đồng. Trong thời gian từ ngày 03/5/2023 đến ngày 20/5/2023, D đã cho anh S vay với tổng số tiền gốc là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, nhưng sau đó do không có tiền trả tiền gốc nên anh S chỉ đóng tiền lãi theo số tiền mà anh S có, cụ thể S đã chuyển tiền lãi cho D từ ngày 23/5/2023 đến ngày 09/8/2023 nhiều lần với tổng số tiền là 29.750.000 (hai mươi chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng, tương ứng với lãi suất 132,4%/năm. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 4.493.151 đồng (bốn triệu bốn trăm chín ba nghìn một trăm năm mốt) đồng. Số tiền thu lợi bất chính của D là 25.256.849 (hai mươi lăm triệu hai trăm năm sáu nghìn tám trăm bốn chín) đồng.

Như vậy, hành vi cho vay tiền trong giao dịch dân sự của Ngô Trung D đối với anh Trần S với mức lãi suất từ 132,4%/năm đến 304,2%/năm, đã gấp từ 6,62 lần đến 15,21 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định, thu lời bất chính số tiền là 44.102.055 đồng.

Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSKA ngày 31/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Ngô Trung D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo D khai nhận hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc truy tố xét xử bị cáo là không oan.

Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:

Căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo D, đề nghị HĐXX:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Trung D: Từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ. Phạt tiền: 30.000.000 đồng – 35.000.000 đồng.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo D.

Về xử lý vật, tiền liên quan hành vi phạm tội: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Bị cáo Ngô Trung D phải nộp lại số tiền là: 86.547.945đ để sung ngân sách nhà nước.

  • - Buộc anh Trần S phải nộp lại số tiền 85.000.000đ để sung ngân sách nhà nước.

  • - Bị cáo Ngô Trung D phải trả cho anh Trần S số tiền 44.102.055đ.

  • - Trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 5G màu đen.

  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 15.000.000đ.

  • - Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đây là phiên toà lần thứ hai. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần S và người làm chứng là anh H vẫn vắng mặt tại phiên toà không lý do, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần S và người làm chứng là anh H.

- Về nội dung:

[3]Về tội danh:

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, bị cáo Ngô Trung D đã thực hiện hành vi cho anh Trần S vay tổng cộng số tiền 180.000.000 đồng với lãi suất từ 132,4%/năm đến 304,2%/năm, cao gấp từ 6,62 lần đến 15,21 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định, trong đó số tiền D đã thu lời bất chính là 44.102.055 đồng nên hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Điều 201 Bộ Luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo D đã thực hiện hành vi cho anh Trần S vay 180.000.000 đồng với lãi suất cao gấp từ 6,62 lần đến 15,21 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định, thu lời bất chính là 44.102.055 đồng nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 201 Bộ Luật Hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân bị cáo tốt, không tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có đơn trình bày bị cáo là trụ cột gia đình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo lại đang có con nhỏ, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương do vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức khởi điểm của hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn, có con nhỏ nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo D.

[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính cần áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo D mức 30.000.000đ.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà, bị cáo D trình bày số tiền cho anh Trần S vay là tiền cá nhân bị cáo D, việc vay nợ giữa bị cáo và anh S chị B không biết cụ thể, không biết mức lãi suất là bao nhiêu. Chị B cũng trình bày không biết việc trả lãi cụ thể của anh S cho bị cáo D là như thế nào, số tiền cho vay cũng là của riêng bị cáo D, số tiền lãi thu của anh S là bị cáo D tự chi tiêu cá nhân nên bị cáo D sẽ có nghĩa vụ, trách nhiệm trả lại anh S số tiền này.

Bị cáo D phải nộp lại số tiền là: 86.547.945đ để sung ngân sách nhà nước, bao gồm: 80.000.000đ là số tiền bị cáo D cho anh Trần S vay; 6.547.945đ là tiền lãi theo quy định pháp luật bị cáo D đã thu của anh Trần Sinh.

Buộc bị cáo D phải trả lại cho anh Trần S số tiền lãi đã thu trái quy định là 44.102.055đ.

Buộc anh Trần S phải nộp lại số tiền 100.000.000₫ là số tiền anh S vay của bị cáo D nhưng chưa trả lại để sung quỹ nhà nước, trừ vào số tiền 15.000.000đ cơ quan công an đã thu giữ của anh S, anh S còn phải nộp lại 85.000.000đ.

[11] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan công an đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 5G màu đen và số tiền 15.000.000₫.

Xét: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 5G màu đen là tài sản bị cáo D không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 15.000.000đ là của anh S sẽ được trừ vào số tiền anh S phải nộp lại ngân sách nhà nước.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự:

1.Tuyên bố bị cáo Ngô Trung D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt bị cáo Ngô Trung D: 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 5/01/2024, thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là: 05 (Năm) tháng 06 (Sáu) ngày.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận K, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Ngô Trung D cho UBND phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

(Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án Hình sự).

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Ngô Trung D.

2. Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị cáo Ngô Trung D phải nộp lại số tiền là: 86.547.945đ để sung ngân sách nhà nước.

  • - Buộc anh Trần S phải nộp lại số tiền 85.000.000đ để sung ngân sách nhà nước.

  • - Bị cáo Ngô Trung D phải trả cho anh Trần S số tiền 44.102.055đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Ngô Trung D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 5G màu đen.

  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 15.000.000₫ theo uỷ nhiện chi lập ngày 18/6/2024.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Ngô Trung D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.205.102 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - CQCSĐT Công an quận Kiến An;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Kiến An;
  • - VKS ND TP. Hải Phòng;
  • - Toà án nhân dân TP.Hải Phòng;
  • - PV06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự CA quận Kiến An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng.
  • - UBND phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger