|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/DS-ST Ngày: 04-6-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Huỳnh Đạt Phương.
Ông Nguyễn Thanh Màu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Thành Công - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm Sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B1; Địa chỉ trụ sở chính: số B T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: ông Lê Duy T, sinh năm: 1995; (Có mặt)
Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 - Chi nhánh S. Địa chỉ thường trú: Ấp C, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ nơi làm việc: số A đường C, Khóm B, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo uỷ quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 04/6/2024.
- Bị đơn: Ông Võ Quang B, sinh năm 1996; (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Đ, Khóm B, Phường F, Thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng), cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 - Chi nhánh S Phòng G đã cho ông B vay tiền theo 03 hợp đồng tín dụng gồm:
Khoản vay 1: Hợp đồng tín dụng số: HDTD881202100005 ngày 13/01/2021, số tiền vay là 150.000.000 đồng; thời hạn vay 60 tháng; mục đích vay: tiêu dùng. Ngân hàng đã giải ngân cho ông B nhận đủ số tiền 150.000.000 đồng, bằng tiền mặt theo giấy đề nghị giải ngân vào ngày 13/01/2021. Quá trình thực hiện hợp đồng ông B đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền gốc, lãi là 74.857.477 đồng (trong đó, tiền gốc là 52.500.000 đồng; lãi là 22.357.477 đồng). Tính đến ngày 25/11/2022, ông B còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 98.593.261 đồng (trong đó, tiền gốc là 97.500.000 đồng; lãi trong hạn là 1.081.565 đồng; lãi quá hạn là 11.696 đồng).
Khoản vay 2: Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/06/2021; Loại thẻ: JCB; hạng thẻ: chuẩn; số tiền vay 50.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay 28%/năm; Ngân hàng đã kích hoạt thẻ và giao thẻ cho ông B nhận vào ngày 05/6/2021. Tính đến ngày 25/11/2022, ông B còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 22.624.353 đồng (trong đó, tiền gốc là 22.520.794 đồng; lãi trong hạn là 103.559 đồng).
Khoản vay 3: Hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2022, số tiền vay là 29.000.000 đồng; thời hạn vay 20 tháng; mục đích vay: tiêu dùng; Đối với số tiền này, ông B vay bằng hình thức trực tuyến trên APP của Ngân hàng và thực hiện các giao dịch trực tuyến, không có ký hợp đồng tín dụng do đó, ngân hàng không thể cung cấp hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ theo yêu cầu của Tòa án được. Tính đến ngày 25/11/2022, ông B còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 27.473.684 đồng (trong đó, tiền gốc là 27.473.684 đồng; lãi trong hạn 0 đồng).
Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông B thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay theo đúng thỏa thuận nhưng ông B vẫn không thực hiện
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Võ Quang B trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 tổng số tiền gốc và lãi còn nợ theo 03 hợp đồng tín dụng tính đến ngày 25/11/2022 là 148.783.161 đồng, cụ thể:
- - Tổng số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số HDTD881202100005 ngày 13/01/2021 là 98.593.261 đồng (trong đó, tiền gốc là 97.500.000 đồng; lãi trong hạn là 1.081.565 đồng; lãi quá hạn là 11.696 đồng).
- - Tổng số tiền gốc và lãi theo thẻ tín dụng ngày 01/06/2021 là 22.624.353 đồng (trong đó, tiền gốc là 22.520.794 đồng; lãi trong hạn là 103.559 đồng).
- - Tổng số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2022 là 27.473.684 đồng (trong đó, tiền gốc là 27.473.684 đồng; lãi trong hạn 0 đồng)
Trong thời gian chưa thanh toán nợ, ông B còn phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi tất toán khoản vay.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/3/2024, bị đơn ông Võ Quang B trình bày:
Ông B thừa nhận vào năm 2021, ông B có vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 - Chi nhánh S Phòng G theo 02 hợp đồng như sau:
- - Hợp đồng tín dụng số: HDTD881202100005 ngày 13/01/2021; Số tiền vay là 150.000.000 đồng; thời hạn vay 60 tháng; mục đích vay: tiêu dùng; lãi suất vay trong hạn là 8,5%, lãi suất vay quá hạn bằng 150%, lãi suất cho vay trong hạn. Đối với khoản vay này, ông B trả tiền gốc và lãi vay hàng tháng, ông B thống nhất với số tiền gốc và lãi đã trả như Ngân hàng cung cấp là 74.857.477 đồng (trong đó, tiền gốc là 52.500.000 đồng, lãi là 22.357.477 đồng), còn nợ lại số tiền gốc là 97.500.000 đồng, còn tiền lãi thì ông B không rõ.
- - Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 01/6/2021, với số tiền vay là 50.000.000 đồng; thời hạn vay 36 tháng; mục đích vay: tiêu dùng. Đối với khoản vay này còn nợ lại số tiền gốc là 22.520.794 đồng, còn tiền lãi thì ông B không rõ.
Ngoài hai khoản vay trên, ông B không còn vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 - Chi nhánh S Phòng G khoản vay nào khác.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông B có ý kiến như sau:
Ông B thừa nhận còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 - Chi nhánh S Phòng G số tiền gốc theo 02 hợp đồng tín dụng là 97.500.000 đồng + 22.520.794 đồng = 120.020.794 đồng và tiền lãi phát sinh nhưng ông B không biết tiền lãi đến nay là bao nhiêu. Ông B đồng ý trả số tiền gốc và lãi vay còn nợ của 02 hợp đồng này cho Ngân hàng. Tuy nhiên, hiện ông B đang bị tạm giam để điều tra trong vụ án hình sự nên chưa có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng, do đó, ông B yêu cầu ngân hàng xem xét, tạo điều kiện khi nào ông được tự do sẽ liên hệ trả nợ cho Ngân hàng.
Đối với khoản vay 29.000.000 đồng ngày 25/10/2022, theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì ông B không đồng ý vì ông không có vay khoản tiền này.
* Tại phiên toà sơ thẩm:
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Lê Duy T trình bày:
Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 yêu cầu ông B trả nợ theo 03 hợp đồng tín dụng. Nay, nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản vay theo hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2022, với tổng số tiền gốc và lãi còn nợ tạm tính đến ngày 25/11/2022 là 27.473.684 đồng (trong đó, tiền gốc là 27.473.684 đồng; lãi trong hạn 0 đồng) và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi còn nợ tính đến ngày 04/6/2024 theo 02 hợp đồng tín dụng là 160.137.314 đồng, cụ thể:
- - Tổng số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số HDTD881202100005 ngày 13/01/2021 là 123.773.586 đồng (trong đó, tiền gốc là 97.500.000 đồng; lãi trong hạn là 19.804.853 đồng; lãi quá hạn là 6.468.733 đồng).
- - Tổng số tiền gốc và lãi theo thẻ tín dụng ngày 01/06/2021 là 36.363.728 đồng (trong đó, tiền gốc là 22.520.794 đồng; lãi quá hạn là 13.842.934 đồng).
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn, thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70, 71, 72, 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét: Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 về việc buộc ông Võ Quang B trả số tiền gốc và lãi còn nợ tính đến ngày 25/11/2022 là 27.473.684 đồng (trong đó, tiền gốc là 27.473.684 đồng; lãi trong hạn 0 đồng) theo hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2022. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Võ Quang B; cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền gốc và lãi vay còn nợ là 160.137.314 đồng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 là ông Lê Duy T xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông B trả số tiền gốc và lãi còn nợ tính đến ngày 25/11/2022 là 27.473.684 đồng (trong đó, tiền gốc là 27.473.684 đồng; lãi trong hạn 0 đồng), theo hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2022. Xét thấy, việc nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Về nội dung vụ án:
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 về việc yêu cầu ông B trả số tiền gốc và lãi là 160.137.314 đồng, thấy rằng:
[4.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất, Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 – Chi nhánh S Phòng G đã cho ông B vay số tiền 200.000.000 đồng, theo 02 hợp đồng tín dụng, cụ thể: Hợp đồng tín dụng số: HDTD881202100005 ngày 13/01/2021; Số tiền vay là 150.000.000 đồng; thời hạn vay 60 tháng; mục đích vay: tiêu dùng; lãi suất vay trong hạn là 8,5%, lãi suất vay quá hạn bằng 150%, lãi suất cho vay trong hạn và Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/6/2021; loại thẻ: JCB; hạng thẻ: chuẩn; số tiền vay là 50.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay 28%/năm. Ngân hàng đã giải ngân cho ông B nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng, theo hai hợp đồng tín dụng nêu trên. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là tình tiết không phải chứng minh.
[4.2] Về tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng số: HDTD881202100005 ngày 13/01/2021 và Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/6/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 ủy quyền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 - Chi nhánh S Phòng G giao kết hợp đồng với ông B thông qua người đại diện hợp pháp của Ngân hàng, hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết, không bị lừa dối ép buộc và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.
[4.3]. Ngân hàng đã giải ngân cho ông B nhận đủ số tiền gốc là 200.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số: HDTD881202100005 ngày 13/01/2021 và Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/6/2021. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng ông B đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi vay theo thỏa thuận, tính đến ngày 04/6/2024, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/6/2021 đã hết hạn nhưng ông B chỉ trả cho Ngân hàng được số tiền gốc là 27.479.206 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 22.520.794 đồng. Đối với hợp đồng tín dụng số: HDTD881202100005 ngày 13/01/2021, ông B mới trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 52.500.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 97.500.000 đồng. Do đó, Ngân hàng đã chấm dứt việc cấp tín dụng và yêu cầu ông B thanh toán toàn bộ số tiền gốc còn nợ của 02 hợp đồng là 120.020.794 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[4.4] Xét yêu cầu trả lãi của nguyên đơn:
Theo Hợp đồng tín dụng số: HDTD881202100005 ngày 13/01/2021 thì các bên thỏa thuận lãi suất vay trong hạn là 8,5 %/năm và lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn và theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/6/2021 thì các bên thỏa thuận lãi suất cố định là 28%/năm. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng; Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng, ông B đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận nên Ngân hàng đã chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn và chuyển những kỳ đến hạn chưa thanh toán của Hợp đồng tín dụng số: HDTD881202100005 ngày 13/01/2021 sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn từ tháng tháng 12/2022 cho đến nay là phù hợp quy định tại Điều 5.3 Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Võ Quang B phải thanh toán số tiền lãi còn nợ tính đến hết ngày 04/6/2024 là 40.116.520 đồng (trong đó, lãi trong hạn là 33.647.787 đồng; lãi quá hạn là 6.468.733 đồng) và số tiền lãi nêu trên Ngân hàng đã tính đúng nên được chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi mà bị đơn ông Võ Quang B có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 tính đến hết ngày 04/6/2024 theo 02 hợp đồng tín dụng là 160.137.314 đồng (trong đó, tiền gốc là 120.020.794 đồng; lãi trong hạn là 33.647.787 đồng; lãi quá hạn là 6.468.733 đồng).
[4.5] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 05/6/2024 cho đến khi ông B trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí.
Bị đơn ông Võ Quang B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 8.006.865 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc ông Võ Quang B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 tổng số tiền gốc và lãi theo 02 hợp đồng tín dụng, tính đến hết ngày 04/6/2024 là 160.137.314 đồng (trong đó, tiền gốc là 120.020.794 đồng; lãi trong hạn là 33.647.787 đồng; lãi quá hạn là 6.468.733 đồng), cụ thể:
- - Tổng số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số HDTD881202100005 ngày 13/01/2021 là 123.773.586 đồng (trong đó, tiền gốc là 97.500.000 đồng; lãi trong hạn là 19.804.853 đồng; lãi quá hạn là 6.468.733 đồng).
- - Tổng số tiền gốc và lãi theo thẻ tín dụng ngày 01/06/2021 là 36.363.728 đồng (trong đó, tiền gốc là 22.520.794 đồng; lãi trong hạn 13.842.934 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Võ Quang B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 về việc yêu cầu ông Võ Quang B trả số tiền gốc và lãi còn nợ tính đến ngày 25/11/2022 là 27.473.684 đồng (trong đó, tiền gốc là 27.473.684 đồng; lãi trong hạn 0 đồng), theo hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2022.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Võ Quang B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 8.006.865 đồng.
- - Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.719.579 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008614 ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Thị Kim Hằng |
Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 78/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
