TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 78/2024/DS-ST Ngày: 03 – 6 – 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Bạn
– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 659/2023/TLST – DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST – DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/QĐST – DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng T
Địa chỉ: Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim T1 sinh năm 1975
Địa chỉ: H Hồ T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
2. Bị đơn: Ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C
Địa chỉ: Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T trình bày:
Ngày 07/4/2023 do mối quan hệ quen biết là hàng xóm nên bà T có cho vợ chồng bà Trần Thị Uyên C và ông Lê Tiến D vay số tiền 650.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận để giải quyết việc gia đình. Hẹn sau 2 tháng sẽ hoàn trả. Từ đó đến ngày hẹn trả nợ vợ chồng bà C và ông D không trả nợ. Bà T đã nhiều lần đòi nhưng bà C, ông D không trả nợ theo cam kết.
Do đó bà T làm đơn khởi kiện yêu cầu bà C và ông D trả số tiền nợ gốc 650.000.000 đồng và lãi suất tạm tính là 32.000.000 đồng. Tổng số tiền là 682.000.000 đồng và tiếp tục tính lãi đến khi trả nợ xong theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn bà Trần Thị Uyên C mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng văng mặt.
Tại bản tự khai ngày 14 tháng 5 năm 2024 bị đơn ông Lê Tiến D trình bày: Ông là chồng của bà Trần Thị Uyên C, khi ông đi nằm viện về thì chị T qua bảo ông ký vào giấy mượn tiền, vì nghĩ hàng xóm nên tôi ký giấy vợ ông mượn tiền của bà T chứ thực tế ông không vay mượn tiền gì của bà T. Ông không biết bà C vay mượn tiền làm gì và cũng không biết đến khoản vay của bà T cho vợ ông mượn. Do đó bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông trả số tiền 682.000.000 đồng bao gồm nợ gốc và lãi thì ông không đồng ý trả nợ. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Chi trả nợ chứ ông không mượn gì nên ông không có trách nhiệm trả nợ cho bà T.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa:
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Hồng T số tiền nợ gốc là 650.000.000 đồng và lãi suất từ ngày 08/6/2023 đến khi trả nợ xong, với lãi suất là 10%/năm.
Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Bị đơn ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C cư trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị Uyên C, ông Lê Tiến D đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về số nợ gốc:
Bà Trần Thị Uyên C và ông Lê Tiến D là hàng xóm của bà Trần Thị Hồng T. Ngày 07/4/2023 vợ chồng bà C, ông D có mượn tiền của bà T, với số tiền là 650.000.000 đồng, thời gian hẹn 2 tháng sẽ trả số tiền trên. Thỏa thuận lãi suất bằng miệng. Khi vay ông D, bà C không thế chấp tài sản gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà C vắng mặt, không tham gia tố tụng, không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn ông D không đồng ý trả nợ cho bà T vì ông D xác định ông không có vay mượn tiền của bà T, việc ông ký vào giấy vay này là do bà T cầm giấy đưa ông ký chứ thực tế ông không mượn và không biết khoản vay này.
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà Trần Thị Uyên C và ông Lê Tiến D trong giấy mượn tiền ngày 07/4/2023. Tại bản kết luận giám định số 360/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
“Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Tiến D dưới mục 'người vay” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết mang tên Lê Tiến D trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2 là do cùng một người ký và viết ra.
Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị Uyên C dưới mục 'người vay” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị Uyên C trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M3 là do cùng một người ký và viết ra. "Hội đồng xét xử xét thấy, ông D không đồng ý trả đối với khoản vay nợ của bà C với bà T là không có căn cứ. Bởi lẽ, tại bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định chữ ký, chữ viết trên giấy mượn tiền ngày 07/4/2023 là của ông D và bà C ký và viết ra. Việc ông D không tự nguyện ký vào giấy mượn tiền nhưng ông D không đưa ra được các chứng cứ, tài liệu chứng minh đối với trình bày của mình nên không có cơ sở để xem xét.
Từ những chứng cứ, tài liệu trên có đủ cơ sở xác định ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C có mượn của bà Trần Thị Hồng T số tiền nợ gốc là 650.000.000 đồng. Việc bị đơn ông D, bà C không trả nợ tiền nợ gốc và lãi cho nguyên đơn theo giấy mượn tiền đã ký kết là vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Do vậy nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bị đơn ông Lê Tiến D và bà Trần Thị U Chi trả cho bà T số tiền nợ gốc 650.000.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.
[3.2] Về số nợ lãi:
Trong giấy mượn tiền ngày 07/4/2023 không thỏa thuận lãi suất. Nguyên đơn trình bày khi vay có thỏa thuận lãi suất bằng miệng, bị đơn vắng mặt không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện. Do các bên không thỏa thuận lãi suất, không xác định được lãi suất khi vay nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự để tính lại lãi suất theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định:
“Điều 6. Xác định thời điểm xét xử sơ thẩm và thời gian chậm trả
...
3. “Thời gian chậm trả” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này được xác định như sau:
b/ Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”
Cụ thể: Trong giấy mượn tiền ngày 07/4/2023 thể hiện thời hạn vay 2 tháng sẽ trả. Do đó xác định thời hạn tính từ ngày 08/6/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 03/6/2024.
Số tiền lãi: 650.000.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 05 ngày = 65.903.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu chín trăm lẻ ba ngàn đồng). (làm tròn)
[3.3] Từ những căn cứ nhận định trên xác định bị đơn ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C phải trả cho nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T số tiền nợ gốc và lãi là: 650.000.000 đồng + 65.903.000 đồng = 715.903.000 đồng (Bảy trăm mười lăm triệu chín trăm lẻ ba ngàn đồng)
[4] Về chi phí tố tụng và án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm. Cụ thể:
Về chi phí trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết: Bị đơn ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 6.500.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T đã nộp tại Tòa án và đã chi phí hết. Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T được nhận lại số tiền 6.500.000 đồng sau khi thu được của ông D và bà C.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ phải thực hiện. Cụ thể:
20.000.000 đồng + 4% x(715.903.000 đồng – 400.000.000 đồng ) = 32.636.000 đồng (làm tròn) (Ba mươi hai triệu sáu trăm ba mươi sáu ngàn đồng)
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 146, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm.
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T.
Buộc ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T số tiền 715.903.000 đồng (Bảy trăm mười lăm triệu chín trăm lẻ ba ngàn đồng). (Trong đó nợ gốc là 650.000.000 đồng và nợ lãi là 65.903.000 đồng.)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
– Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C phải chịu chi phí trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng). Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T đã nộp tại Tòa án và đã chi phí hết. Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T được nhận lại số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng) sau khi thu được của ông D và bà C.
– Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Lê Tiến D và bà Trần Thị Uyên C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 32.636.000 đồng (Ba mươi hai triệu sáu trăm ba mươi sáu ngàn đồng)
Bà Trần Thị Hồng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền 15.640.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí do Đỗ Đức H nộp thay Trần Thị Hồng T theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0004165 ngày 26/10/2023 tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: – P. NVKT&THA TAND tỉnh Đắk Lắk; – VKSND tỉnh Đắk Lăk; – VKSND TP.BMT; – CCTHADS TP.BMT; – Các đương sự; – Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Kim Cúc |
Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 78/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Trần Thị Hồng T kiện hợp đồng vay tài sản với bà C, ông D
