Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST

Ngày 03-5-2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quý Hoà;

Ông Nguyễn Thành Trưởng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 03/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/4/2024; Quyết định Hoãn phiên toà số 19/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Xóm A, thôn N, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn H1, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Xóm A, thôn N, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt lần 02.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 18/3/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 10/5/2010, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà riêng ở xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Khải Đ, sinh ngày 18/8/2009 và Nguyễn Tấn K, sinh ngày 06/10/2011, hiện nay con đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Bà là m nghề nô ng, thu nhập bình quân 20.000.000 đồng/tháng. Đến năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp. Ông H1 không lo làm ăn, suốt ngày nhậu nhẹt rồi đánh bà. Việc ông H1 nói bà có người khác là không đúng, mâu thuẫn vợ chồng đã có từ trước khi bà đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản, năm 2014 bà cũng đã gửi đơn ly hôn tới Toà án, nhưng lúc đó vợ chồng hoà giải được với nhau nên bà rút đơn. Vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hữu

Về con chung: Bà yêu cầu nuôi con tên Nguyễn Khải Đ, sinh ngày 18/8/2009 và Nguyễn Tấn K, sinh ngày 06/10/2011; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Nguyễn H1 không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn H1 trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 10/5/2010, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà riêng ở xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Khải Đ, sinh ngày 18/8/2009 và Nguyễn Tấn K, sinh ngày 06/10/2011, hiện nay con đang được ông nuôi dưỡng ổn định. Ông là m nghề nông, thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/tháng. Vợ chồng ông cũng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ cãi nhau. Năm 2018, bà H đi Nhật Bản xuất khẩu lao động, vợ chồng gom góp tiền cho bà H đi. 2 – 3 năm đầu vợ chồng còn liên lạc với nhau, nhưng sau đó bà H có bồ nên không liên lạc với ông nữa. Bà H có gửi tiền về cho bà ngoại để lo cho 02 con, còn phía ông thì bà H không gửi. Bà H mới về nước được 10 ngày nay, vợ chồng cũng chưa nói chuyện lại với nhau do bà H chặn liên lạc với ông. Nay bà H yêu cầu Toà án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì ông không đồng ý. Do ông còn thương yêu bà H, muốn cho gia đình có vợ chồng đầy đủ để chăm lo cho 02 con.

Về con chung: Nếu bà H vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn thì ông yêu cầu nuôi con tên Nguyễn Khải Đ, sinh ngày 18/8/2009 và Nguyễn Tấn K, sinh ngày 06/10/2011; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ngày 10/4/2024, ông Nguyễn H1 có đơn yêu cầu hoãn phiên toà và đơn yêu cầu phản tố. Yêu cầu Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu tranh chấp tài sản chung khi ly hôn giữ ông và bà Nguyễn Thị H, gồm các tài sản sau:

- Một ngôi nhà cấp 4 diện tích 80m² xây dựng trên thửa đất thuộc lô 7, diện tích 210m² được Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho vợ chồng ông năm 2013.

- Một lô đất trồng rừng nguồn gốc do vợ chồng ông khai hoang diện tích 1ha, trên đất trồng keo đang chuẩn bị thu hoạch.

Toàn bộ các tài sản trên đều có địa chỉ tại thôn N, xã Â, huyện H. Ông H1 đề nghị Toà án tiến hành định giá tài sản và phân chia theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn H1 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Hữu.

Về con chung: Đề nghị giao con tên Nguyễn Khải Đ, sinh ngày 18/8/2009 cho ông Nguyễn H1 tiếp tục nuôi dưỡng; giao con tên Nguyễn Tấn K, sinh ngày 06/10/2011 cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết. Về yêu cầu phản tố của ông Nguyễn H1: áp dụng khoản 1 Điều 244 BLTTDS, Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 và mục 7 phần II Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn H1 về yêu cầu chia tài sản chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Hữu. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Nguyễn H1 có đăng ký thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị H; ông Nguyễn H1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông H1.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 10/5/2010 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Theo bà Nguyễn Thị H trình bày: năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp. Ông H1 không lo làm ăn, suốt ngày nhậu nhẹt rồi đánh bà. Bà không có người đàn ông khác bên ngoài, mâu thuẫn vợ chồng đã có từ trước khi bà đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản, năm 2014 bà cũng đã gửi đơn ly hôn tới Toà án, nhưng lúc đó vợ chồng hoà giải được với nhau nên bà rút đơn. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay.

Đối với bị đơn ông Nguyễn H1: Về quá trình tìm hiểu, kết hôn, chung sống, nuôi con chung thống nhất như bà H trình bày. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng thì ông không thống nhất. Vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ cãi nhau. Năm 2018, bà H đi Nhật Bản xuất khẩu lao động, vợ chồng gom góp tiền cho bà H đi. 2 – 3 năm đầu vợ chồng còn liên lạc với nhau, nhưng sau đó bà H có bồ nên không liên lạc với ông nữa, nhưng vẫn gửi tiền về cho bà ngoại để lo cho 02 con. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý. Do ông còn thương yêu bà H, muốn cho gia đình có vợ chồng đầy đủ để chăm lo cho 02 con.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn H1 mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn H1 có 02 con chung tên Nguyễn Khải Đ, sinh ngày 18/8/2009 và Nguyễn Tấn K, sinh ngày 06/10/2011. 02 cháu hiện đang được bà H, ông H1 nuôi dưỡng ổn định. Tại tòa, bà H và ông H1 đều yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2024, cháu K có nguyện vọng ở với bà H; còn cháu Đ không muốn cha mẹ ly hôn nên có nguyện vọng được ở với cả ông H1, bà H. Hội đồng xét xử nhận định: để ổn định và thuận tiện cho việc sinh hoạt, chăm sóc, nuôi dưỡng các con được tốt nhất cần giao con Nguyễn Khải Đ cho ông Nguyễn H1 tiếp tục nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Tấn K cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn H1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung:

[6.1] Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

[6.2] Ngày 10/4/2024, bị đơn ông Nguyễn H1 có đơn yêu cầu hoãn phiên toà và đơn yêu cầu phản tố. Yêu cầu Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu tranh chấp tài sản chung khi ly hôn giữ ông và bà Nguyễn Thị H, gồm các tài sản sau:

- Một ngôi nhà cấp 4 diện tích 80m² xây dựng trên thửa đất thuộc lô 7, diện tích 210m² được Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho vợ chồng ông năm 2013.

- Một lô đất trồng rừng nguồn gốc do vợ chồng ông khai hoang diện tích 1ha, trên đất trồng keo đang chuẩn bị thu hoạch.

Toàn bộ các tài sản trên đều có địa chỉ tại thôn N, xã Â, huyện H. Ông H1 đề nghị Toà án tiến hành định giá tài sản và phân chia theo quy định pháp luật nhưng ông không cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Đồng thời, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, ông không yêu cầu giải quyết phần tài sản chung và nợ chung. Bên cạnh đó, yêu cầu phản tố của ông H1 đã vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 6 Điều 72; khoản 3 Điều 200; khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 và mục 7 phần II Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn H1, nếu ông H1 có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thì có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định pháp luật.

[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

    Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Hữu.

  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Khải Đ, sinh ngày 18/8/2009 cho ông Nguyễn H1 tiếp tục nuôi dưỡng; giao con chung tên Nguyễn Tấn K, sinh ngày 06/10/2011 cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Hai bên được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số 0004631, ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hồng Nam

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
  • - Các bên đương sự;
  • - CC THADS huyện Hoài Ân;
  • - UBND xã Ân Nghĩa;
  • - Lưu HSVA, VPTA.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hường, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm 1, thôn Nghĩa Điền, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. - Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu, sinh năm 1988; Địa chỉ: Xóm 1, thôn Nghĩa Điền, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger