|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 78/2025/ST – HNGĐ Ngày 26 tháng 6 năm 2025 “V/v Yêu cầu ly hôn, nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Phú.
Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Doãn Quỳnh, bà Phạm Thị Thúy Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quyên – Chức vụ: Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Anh sơn, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 25/02/2025 về việc “Yêu cầu ly hôn, nuôi con” giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L – Sinh năm: 1985.
Nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
-
* Bị đơn: Anh Lê Văn Đ – Sinh năm: 1982
Nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
-
* Người làm chứng:
Bà Cao Thị L1 – Sinh năm 1953
Nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị L vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị L trình bày:
Chị và anh Lê Văn Đ kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện và đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh Đ đi làm xa nhà. Kể từ đó đến nay giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hòa giải được. Hiện tại hai bên đã sống ly thân một thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn nên chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Chị L, anh Đ có 02 con chung: Cháu Lê Thị D, sinh ngày 28/12/2009 và cháu Lê Thành Đ1, sinh ngày 21/5/2013. Trường hợp ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Chị L không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn anh Lê Văn Đ vắng mặt, do đó Toà án không lấy được lời khai, ý kiến của anh Đ.
Tại phiên tòa hôm nay người làm chứng là bà Cao Thị L1 vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà L1 trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Lê Văn Đ (Bị đơn trong vụ án). Hiện tại anh Đ đang đi làm ăn trong miền nam, lâu lâu mới về thăm nhà. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đ thông qua bà thì bà đều nhận hộ và thông báo lại cho anh Đ biết. Tuy nhiên, do đang phải đi làm ăn xa nên anh Đ không về Tòa án giải quyết được. Anh Đ nhờ bà nhắn lại với Tòa án đề nghị được vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.
Về vấn đề tình cảm: Anh Lê Văn Đ và chị Bùi Thị L kết hôn năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh được hai người con là cháu Lê Thị D, sinh ngày 28/12/2009 và cháu Lê Thành Đ1, sinh ngày 21/5/2013. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, đến khoảng 3 đến 4 năm trở lại đây thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Hiện tại, vợ chồng đã ly thân. Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh Đ có nhắn với tôi rằng: “Hiện tại vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn được nữa nên chị L yêu cầu ly hôn thì anh Đ cũng đồng ý. Về con chung: Anh Đ đề nghị được trực tiếp nuôi cháu Lê Thành Đ1 và đề nghị giao cháu Lê Thị D cho chị Bùi Thị L nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết".
Quá trình đi làm ăn, anh Đ đều thường xuyên gửi tiền về gia đình để nuôi con. Lúc rảnh rỗi, bố trí được công việc, anh Đ vẫn về thăm gia đình và bố mẹ. Còn địa chỉ cụ thể của anh Đ thì bà không rõ, chỉ biết làm ăn trong miền nam.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Lê Thị D trình bày:
Cháu là con đẻ của ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị L. Cháu không muốn bố mẹ cháu ly hôn. Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được sống với mẹ là bà Bùi Thị L.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Lê Thành Đ1 trình bày:
Cháu là con đẻ của ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị L. Cháu không muốn bố mẹ cháu ly hôn. Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được sống với bố là ông Lê Văn Đ.
Tại phiên Tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự .
Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Lê Văn Đ.
- Về con chung: Giao con chung là Lê Thị D, sinh ngày 28/12/2009 cho chị Bùi Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung là Lê Thành Đ1, sinh ngày 21/5/2013 cho anh Lê Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xét do chị Bùi Thị L, anh Lê Văn Đ không yêu cầu.
- Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Lê Văn Đ cư trú tại thôn F, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn Đ vắng mặt mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ. Nguyên đơn chị Bùi Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên việc giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị L, anh Lê Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2009 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An, hôn nhân là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau. Hiện tại vợ chồng chị L, anh Đ đang sống ly thân.
Xét tình cảm giữa chị L, anh Đ thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị L là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị L, anh Đ có 02 con chung: Cháu Lê Thị D, sinh ngày 28/12/2009 và cháu Lê Thành Đ1, sinh ngày 21/5/2013. Trường hợp ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Lê Văn Đ có nguyện vọng được nuôi cháu Lê Thành Đ1 và giao cháu Lê Thị D cho chị Bùi Thị L nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy: Nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung của cả hai bên là hoàn toàn chính đáng. Chị L và anh Đ đều đủ điều kiện để nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Lê Thành Đ1 có nguyện vọng được sống với anh Đ, cháu Lê Thị D có nguyện vọng được sống cùng chị L.
Do đó việc giao con chung là cháu Lê Thị D cho chị Bùi Thị L nuôi dưỡng và giao con chung là cháu Lê Thành Đ1 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp và phù hợp với nguyện vọng của các con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: HĐXX không xét do chị Bùi Thị L, anh Lê Văn Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị L, anh Lê Văn Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Lê Văn Đ.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thị D, sinh ngày 28/12/2009 cho chị Bùi Thị L trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung là cháu Lê Thành Đ1, sinh ngày 21/5/2013 cho anh Lê Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi, trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị L, anh Lê Văn Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét.
Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Bùi Thị L, anh Lê Văn Đại T thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
- Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008040 ngày 25/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Chị L đã nộp đủ án phí ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi người vắng mặt cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Phú |
Bản án số 78/2025/ST – HNGĐ ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 78/2025/ST – HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ly hôn
