Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1- ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HSST

Ngày: 28-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Vui
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hải
  • Ông Phạm Công Lương
  • Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tới - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Sĩ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn D (tên gọi khác: Không) sinh ngày 18 tháng 4 năm 2002 tại thành phố Đà Nẵng; căn cước công dân số: [...] cấp ngày 22/8/2023; nơi ĐKTT: K L, tổ A T, phường T, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: Số A P, tổ E, phường A, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn A - sinh năm: 1970 (sống) và bà Nguyễn Thị H (chết); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/6/2024 bị Công an quận C (cũ), xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử sụng trái phép chất ma túy tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 146.

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại:

  • - Anh Nguyễn Văn N – sinh năm: 1996; địa chỉ: K B, phường N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
  • - Chị Võ Thị Tố N1 – sinh năm: 1988; địa chỉ: A P, phường T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Lê Thị L – sinh năm: 1964; địa chỉ: A P, phường T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần xe mô tô làm phương tiện sử dụng nên Nguyễn Tuấn D nảy sinh ý định trộm cắp xe. Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 23/6/2025, khi đi bộ ngang qua quán chè “JOY” - C T, P. H, thành phố Đà Nẵng, phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu trắng - đen, biển số 43B1-009.02 của anh Nguyễn Văn N (sinh năm: 1996; trú: K171/ A B, P. N, TP.) đang dựng trước quán. Thấy có sẵn chìa khóa trên xe nên D đã lén lấy trộm xe.

D điều khiển xe chạy đến đoạn đường trước nhà số A P, P. T, thành phố Đà Nẵng thì xe bị hết xăng và tắt máy nên D để lại bên vỉa hè. D phát hiện trước nhà số A P có xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 43X3-4965 của chị Võ Thị Tố N1 (sinh năm: 1988; trú: A P, phường T, thành phố Đà Nẵng) đang để dưới lòng đường, có sẵn chìa khóa trên xe nên D lấy trộm xe bỏ chạy thì bị mẹ của chị N1 là bà Lê Thị T (sinh năm: 1964) phát hiện nên đuổi theo giữ lại và báo Công an phường T (cũ) đến đưa về làm việc.

* Vật chứng thu giữ:

  • - Nguyễn Tuấn D: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu trắng - đen, biển số 43B1-009.02, số khung: 431751, số máy: 431754; 01 nón bảo hiểm màu xanh, nhãn hiệu G.
  • - Lê Thị T: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, biển số 43X3-4965, số khung: 552158, số máy: 0109484
  • - Lê Văn Đ: 01 đĩa DVD-R, màu xanh, hiệu PRINCESS, có lưu trữ 01 video, có độ dài 16 giây, ghi lại hình ảnh Nguyễn Tuấn D trộm cắp xe vào lúc 18 h37' ngày 23.6.2025 tại C T, P. H, TP

Theo Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2025 của Hội đồng ĐGTS trong TTHS, UBND thành phố Đ, kết luận: Xe mô tô biển số 43B1-009.02 nêu trên có trị giá 5.750.000 đồng (bút lục: 15).

Theo Kết luận định giá tài sản số 194/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2025 của Hội đồng ĐGTS trong TTHS, UBND thành phố Đ, kết luận: Xe mô tô biển số 43X3-4965 nêu trên có trị giá 800.000 đồng (bút lục: 16 - 17).

Quá trình điều tra, bị can D đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Văn N, Võ Thị Tố N1; với lời khai người làm chứng Lê Thị T; lời khai những người liên quan, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 27.10.2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự.uyHu

Tại phiên toà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước trình bày luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn D và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không.
  • - Về xử lý vật chứng:

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã trả lại cho các bị hại:

  • + Nguyễn Văn N: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu trắng - đen, biển số 43B1-009.02, số khung: 431751, số máy: 431754; 01 nón bảo hiểm màu xanh, nhãn hiệu G.
  • + Võ Thị Tố N1: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, biển số 43X3-4965, số khung: 552158, số máy: 0109484.
  • - Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R, màu xanh, hiệu PRINCESS, có lưu trữ 01 video, có độ dài 16 giây, ghi lại hình ảnh D trộm cắp xe vào lúc 18 h37' ngày 23.6.2025 tại C T, P. H, TP...
  • - Về dân sự: Các bị hại Nguyễn Văn N, Võ Thị Tố N1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Tố N1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Nguyễn Tuấn D thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng đã truy tố.

- Bị cáo Nguyễn Tuấn D nói lời sau cùng: Đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tuấn D tại phiên tòa đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do cần xe mô tô để làm phương tiện sử dụng, ngày 23.6.2025, tại phường H và phường T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Tuấn D đã 02 lần trộm cắp tài sản, gồm: 01 xe mô tô của anh Nguyễn Văn N, trị giá: 5.750.000 đồng và 01 xe mô tô của chị Võ Thị Tố N1, trị giá 800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.550.000 đồng.

Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 29.10.2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự uyHulà có căn cứ, đúng người và đúng tội.uyHu

[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Do cần xe mô tô để làm phương tiện sử dụng, bị cáo Nguyễn Tuấn D có hành vi lén lút trộm cắp 02 chiếc xe máy. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/6/2024 bị Công an quận C (cũ), xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử sụng trái phép chất ma túy tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 146. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đồng thời làm gương cho người khác.

[4] Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ hình phạt:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn nên thuộc trường hợp “gây thiệt hại không lớn”, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mẹ đã mất, chỉ còn cha và một em gái nhưng đều bị bệnh HIV. Do đó, khi xem xét mức án, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không.

[6] Về dân sự: Anh Nguyễn Văn N đã nhận lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu trắng - đen, biển số 43B1-009.02 và 01 nón bảo hiểm màu xanh, nhãn hiệu G; chị Võ Thị Tố N1 đã nhận lại: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, biển số 43X3-4965 và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp đụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng sau: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R, màu xanh, hiệu PRINCESS, có lưu trữ 01 video, có độ dài 16 giây, ghi lại hình ảnh D trộm cắp xe vào lúc 18 h37' ngày 23.6.2025 tại C T, phường H, thành phố Đà Nẵng.

[8] Về vấn đề khác: Không có

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R, màu xanh, hiệu PRINCESS, có lưu trữ 01 video, có độ dài 16 giây, ghi lại hình ảnh D trộm cắp xe vào lúc 18 h37' ngày 23.6.2025 tại C T, P. H, TP .
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Tuấn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.
  6. Về thời hạn kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 1- Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Tòa án ND TP. Đà Nẵng;
  • - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan THADS TP. Đà Nẵng;
  • - Công an thành phố Đà Nẵng;
  • - Phòng THADS khu vực 1 – Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phan Đình Vui

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HSST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 78/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn Duy phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger