Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HSST

Ngày: 19/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thiện
  2. Bà Nguyễn Minh Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Thảo- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025; thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 120/TB- TA ngày 23 tháng 4 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/HSST-QĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/HSST-QĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Thiên H, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1986; tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số A N, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc H1 và bà Phạm Thị V; có chồng là Nguyễn Xuân N (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 19/10/2024 đến ngày 25/10/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Thị T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1977 tại Hà Nam; nơi thường trú: Thôn L, xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá T1 và bà Lê Thị T2 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 18/10/2024 đến ngày 25/10/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Chị Điêu Thị Quỳnh H2; vắng mặt.
  • + Chị Lý Thị N1; vắng mặt.
  • + Anh Phạm Văn S; vắng mặt.
  • + Anh Lưu Đức Nam H3; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng tháng 4/2024, Nguyễn Thị Thiên H làm chủ Kinh doanh nhà nghỉ tại địa chỉ: Số C Chùa V, Đ, quận H, thành phố Hải Phòng và lấy tên là Hana M (gọi là nhà nghỉ H5). H thuê 02 nhân viên lễ tân gồm Nguyễn Thị T3, sinh năm 1979; ĐKHKTT: Duyên Hạ, M, V, Nam Định làm việc từ 08h00' đến 17h00' hằng ngày và Nguyễn Thị T làm việc từ 17h00' ngày hôm trước đến 08h00' ngày hôm sau.

Khoảng đầu tháng 9 năm 2024, Điêu Thị Quỳnh H2, sinh năm 2006; ĐKHKTT: Bản Né, L, M, Điện Biên và Lý Thị N1 (tên thường gọi là T4); ĐKHKTT: Nậm Phìn, C, Sìn H4, Lai C đến nhà nghỉ H5 thuê phòng ở lâu dài nên Thiên H sắp xếp cho hai người này ở ghép tại phòng 204 với giá thuê cả phòng là 3.000.000 đồng/tháng, còn chi phí sinh hoạt do những người này tự chi trả. Đến ngày 16/10/2024, Quỳnh H2 và N1 nói với Thiên H việc cho phép 02 người này bán dâm tại nhà nghỉ H5 để kiếm thêm thu nhập, Thiên H đồng ý để tăng doanh thu tiền phòng của nhà nghỉ. Sau đó, Thiên H thông báo cho T việc Quỳnh H2 và N1 là nhân viên bán dâm và cho phép họ bán dâm tại nhà nghỉ để tăng thu nhập, nhiệm vụ của T là thu tiền phòng của khách theo đúng giá mà nhà nghỉ quy định, không được thu thêm bất kỳ khoản tiền nào khác từ việc bán dâm của 02 người này. Hai nhân viên Quỳnh H2 và N1 dặn T khi nào có khách đến hỏi mua dâm thì để 02 nhân viên bán dâm, giá mỗi lần bán dâm là 300.000 đồng/lượt. Đến khoảng 21h00' ngày 18/10/2024, Phạm Văn S, sinh năm 1981; ĐKHKTT: An Thạch, K, T, Hải Phòng và bạn là Lưu Đức Nam H3, sinh năm 1996; ĐKHKTT: Quang Phục, T, Hải Phòng cùng rủ nhau đi mua dâm, cả hai đến nhà nghỉ H5 thuê 02 phòng nghi, T sắp xếp phòng 303 và 304 cho 02 khách này. S nói với T: "cho nhân viên lên phòng, chọn cho 02 em xinh xinh nhé", ý S là T chọn cho 02 nhân viên nữ để bán dâm cho S và H3, T nghe và hiểu ý của S. Cùng lúc đó, S đưa cho T 1.000.000 đồng (là tiền thuê phòng nghỉ và mua dâm) và đưa thêm 200.000 đồng (để T chọn cho nhân viên đẹp), T nói: "anh ơi em không lấy đâu", ý là không lấy số tiền 200.000 đồng, nhưng S nói: "tí nữa thừa thiếu tính sau". Thấy vậy, T đi lên phòng 204 gọi H2 và N1: "phòng 303, 304 có khách, H2 lên phòng 303, T4 lên phòng 304, tiền cô thu rồi", ý là thông báo có khách đến mua dâm, tiền khách đã thanh toán, khi nào xong việc thì 02 nhân viên xuống quầy nhận tiền. Sau đó, T xuống quầy lễ tân ở tầng 1 làm việc, còn N1 và H2 mỗi người cầm theo 03 bao cao su (chưa qua sử dụng) lên phòng của khách để bán dâm. Đến khoảng 21h15' cùng ngày, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy thuộc Công an quận H phối hợp cùng Công an phường Đ kiểm tra địa chỉ trên, bắt quả tang N1 và S ở phòng 303, Quỳnh H2 và H3 ở phòng 304 đều đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Tổ công tác đã đưa T, Quỳnh H2, N1, S và H3 cùng toàn bộ vật chứng gồm: 03 bao cao su chưa qua sử dụng tại phòng 303, 01 bao cao su đã qua sử dụng và 02 bao cao su chưa qua sử dụng tại phòng 304, số tiền 1.200.000 đồng tại ngăn kéo quầy lễ tân tầng 1 về trụ sở Công an phường Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Đến ngày 19/10/2024, Nguyễn Thị Thiên H đến trụ sở Công an phường Đ đầu thú về hành vi chứa mại dâm.

Ngoài ra, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Thiên H khai Thiên Hương thuê nhà số C Chùa V, Đ, H, Hải Phòng của bà Trần Như P, sinh năm 1963; ĐKHKTT: SỐ E đường T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng từ tháng 9/2023, sửa chữa lại để phục vụ việc cho thuê phòng nghỉ từ tháng 4/2024, việc Thiên H và T chứa mại dâm tại đây bà P không biết, lễ tân ca ngày là chị Nguyễn Thị T3 cũng không biết việc này.

Về xử lý vật chứng: Thu giữ 01 bao cao su đã qua sử dụng, 05 bao cao su chưa qua sử dụng, số tiền 1.200.000 đồng chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng để quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại Bản Cáo trạng số 42/CT-VKSHA ngày 19/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thiên H và Nguyễn Thị T về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo khai nhận tại phòng 303 và phòng 304 của nhà nghỉ H5 ở số C Chùa V, Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, do Nguyễn Thị Thiên H làm chủ kinh doanh, Thiên H và Nguyễn Thị T là lễ tân của nhà nghỉ có hành vi cho thuê địa điểm để Phạm Văn S và Lý Thị N1, Lưu Đức Nam H3 và Điêu Thị Quỳnh H2 thực hiện hành vi mua bán dâm. Trong đó, S là người đứng ra giao dịch với T để trả tiền thuê địa điểm một lần và việc mua bán dâm diễn ra trong cùng một khoảng thời gian.

Người làm chứng chị Điêu Thị Quỳnh H2; chị Lý Thị N1; anh Phạm Văn S, anh Lưu Đức Nam H3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên vắng mặt không có lý do. Tòa án đã công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 327; Điều 65; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử bị cáo Nguyễn Thị Thiên H với mức án từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 36 tháng đến 40 tháng về tội “Chứa mại dâm”; Áp dụng khoản 1 Điều 327; Điều 65; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử bị cáo bị cáo Nguyễn Thị T với mức án từ 15 tháng tù đến 17 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 tháng đến 34 tháng về tội “Chứa mại dâm”; về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng; 05 bao cao su chưa qua sử dụng; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.200.000 đồng là tiền phát sinh từ hành vi phạm tội; đối với hành vi mua dâm của Phạm Văn S và Lưu Đức Nam H3; hành vi bán dâm của Lý Thị N1 và Điêu Thị Quỳnh H2 ngày 18/10/2024 tại phòng 303 và 304 của nhà nghỉ H5 ở số C Chùa V, Đ, H, Hải Phòng, Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính; đối với bà Trần Như P là chủ nhà số C Chùa V, Đ, H, Hải Phòng và chị Nguyễn Thị T3 là nhân viên lễ tân ca ngày, không biết việc các đối tượng chứa mại dâm tại đây nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý; về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm thành công dân có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về sự vắng mặt của người làm chứng:

[2] Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ những người làm chứng chị Điêu Thị Quỳnh H2; chị Lý Thị N1; anh Phạm Văn S, anh Lưu Đức Nam H3. Tuy nhiên vắng mặt không có ý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người làm chứng.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của các bị cáo Nguyễn Thị Thiên H và Nguyễn Thị T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định:

Từ khoảng 21h00' đến 21h15' ngày 18/10/2024, tại phòng 303 và phòng 304 của nhà nghỉ H5; tại địa chỉ: Số C Chùa V, Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, do Nguyễn Thị Thiên H thuê nhà nhà nghỉ làm chủ kinh doanh, bị cáo Nguyễn Thị T là lễ tân của nhà nghỉ có hành vi cho thuê địa điểm để hoạt động mua bán dâm, cho gái bán dâm là Lý Thị N1 và Phạm Văn S; Điêu Thị Quỳnh H2 và Lưu Đức Nam H3 thực hiện hành vi mua bán dâm để kiếm lời. Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội cho người khác thuê địa điểm do mình quản lý để chứa mại dâm là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi. Cụ thể, S là người đứng ra giao dịch với T để trả tiền thuê địa điểm và việc mua bán dâm diễn ra trong cùng một khoảng thời gian. Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về việc bổ sung bản cáo trạng: Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Nguyễn Thị Thiên H đầu thú, nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Việc bổ sung trên là đúng bản chất và nội dung vụ án. Nên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

[5] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

[6] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp, không những xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh, lành mạnh, sức khỏe của con người mà còn trực tiếp xâm hại đến truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, là môi trường lây lan các bệnh về tình dục và bệnh HIV. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ điều kiện giáo dục và phòng ngừa chung.

[7] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng một mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xét vai trò đối với các bị cáo:

[8] Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thị Thiên H là người có vai trò chính là chủ kinh doanh nhà nghỉ, nên mức án của H phải cao hơn so với Nguyễn Thị T là lễ tân và người trực tiếp thu tiền của khách, nên có vai trò thứ yếu thấp hơn so với H.

- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[9] Các bị cáo Nguyễn Thị Thiên H và Nguyễn Thị T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[10] Tuy nhiên khi ấn định hình phạt cũng cần xem xét nhân thân các bị cáo Nguyễn Thị Thiên H và Nguyễn Thị T chưa có tiền án, tiền sự; người phạm tội thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H đầu thú nên được áp dụng được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[11] Xét các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư trú rõ ràng. Đến nay hành vi phạm tội của bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng mức hình phạt cải tạo cách ly xã hội mà cho bị cáo được hưởng mức án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung:

[12] Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[13] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng; 05 bao cao su chưa qua sử dụng; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.200.000 đồng là tiền thu lời bất chính.

[14] Đối với hành vi mua dâm của Phạm Văn S và Lưu Đức Nam H3; hành vi bán dâm của Lý Thị N1 và Điêu Thị Quỳnh H2 ngày 18/10/2024 tại phòng 303 và 304 của nhà nghỉ H5 ở số C Chùa V, Đ, H, Hải Phòng, Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính.

[15] Đối với bà Trần Như P là chủ nhà số C Chùa V, Đ, H, Hải Phòng và chị Nguyễn Thị T3 là nhân viên lễ tân ca ngày, không biết việc các đối tượng chứa mại dâm tại đây nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý.

- Về án phí:

[16] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[17] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 327; Điều 65; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thiên H, Nguyễn Thị T đồng phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thiên H 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 327; Điều 65; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thiên H cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự của 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thị Thiên H, Nguyễn Thị T.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng; 05 bao cao su chưa qua sử dụng;
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.200.000 (một triệu hai trăm nghìn) đồng là tiền thu lời bất chính.

(Theo biên biên lai thu tiền số 0005101 ngày 30 tháng 3 năm 2025 và biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Nguyễn Thị Thiên H và Nguyễn Thị T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Nguyễn Thị Thiên H và Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HSST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về chứa mại dâm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 78/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thiên H - Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger