Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 78/2025/HS-ST

Ngày: 28 - 5 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Minh Hải và bà Nguyễn Thị Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-HS ngày 07/5/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn A, sinh năm 1998 tại Hà Nội; nơi ĐKHKTT: thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1965 và bà Trần Thị T, sinh năm 1972; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 10/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện tại ngoại; có mặt.

2. Trần Văn T1, sinh năm 1992 tại Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1969; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Trần Thị N, sinh năm 1992 và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện tại ngoại; có mặt.

3. Trần Thị T2, sinh năm 1988 tại Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T3, sinh năm 1966 và bà Trần Thị D, sinh năm 1967; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; có chồng là Trần Đức L1, sinh năm 1986 và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn A: Luật sư Nguyễn Mai T4 - Công ty L3- chi nhánh T14, Đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

  1. Anh Đỗ Văn T5, sinh năm 2001; trú tại: khu phố T, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Anh Trần Đức Q1, sinh năm 2001;
  3. Chị Lưu Thị L2, sinh năm 1981;
  4. Anh Trần Văn C, sinh năm 1981;
  5. Chị Trần Thị T6, sinh năm 1974;
  6. Anh Trần Văn T7, sinh năm 1984;
  7. Anh Trần Văn T8, sinh năm 2000;
  8. Chị Trần Thị N, sinh năm 1992;
  9. Anh Trần Khắc C1, sinh năm 1974;

Đều trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Chị Lê Hồng H, sinh năm 1975; trú tại: khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Chị Ngô Thị Kim H1, sinh năm 1988; trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
  3. Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1990; trú tại: thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

(Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi phạm tội của Trần Văn T1, sinh năm 1992, trú tại khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Công ty trách nhiệm hữu hạn X (viết tắt là Công ty X), có địa chỉ tại trụ sở tại: phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, thành lập tháng 01/2019, ngành nghề kinh doanh sắt, thép, phế liệu... đăng ký mã số thuế (MST) 2301075330, do Trần Văn T1, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc và điều hành hoạt động kinh doanh. Tháng 12/2022, T1 thay đổi đăng ký kinh doanh và anh Trần Văn T8, sinh năm 2000, HKTT: Khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (là em họ của T1) đứng tên Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty X, tuy nhiên mọi hoạt động kinh doanh của công ty X đều do Trung trực tiếp quản lý, điều hành.

Trong quá trình kinh doanh và quản lý điều hành công ty X có nhiều khách hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) đến tìm gặp T1 đặt vấn đề mua hóa đơn giá trị gia tăng (viết tắt là GTGT) khống (không có hàng hóa kèm theo) các mặt hàng về sắt, thép, kim loại... Do việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn và lợi dụng chính sách khấu trừ tiền thuế GTGT của Nhà nước, T1 đồng ý và sử dụng hóa đơn của công ty X bán khống cho khách hàng với giá 0,55% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn.

Để tránh bị Cơ quan quản lý thuế phát hiện về việc phát sinh doanh số lớn nên từ tháng 11/2021 đến tháng 03/2023, Trần Văn T1 tiếp tục thành lập 04 công ty để kinh doanh và xuất bán các hóa đơn GTGT khống nhằm mục đích hưởng lợi. T1 nhờ một số cá nhân là người thân đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật, tuy nhiên việc quản lý, điều hành mọi hoạt động của các công ty đều do Trung trực tiếp thực hiện, gồm:

  1. (1). Công ty TNHH S1, MST: 2301191721 (viết tắt là Công ty S1), do Trần Văn T7, sinh năm 1984 (là chú ruột của T1), trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật.
  2. (2). Công ty TNHH S2, MST: 2301191746 (viết tắt là Công ty S2), do Trần Thị T6, sinh năm 1977 (là cô ruột của T1), HKTT: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật.
  3. (3). Công ty TNHH S3, MST: 2301194673 (viết tắt là Công ty S3), do Trần Thị T2, sinh năm 1988 (là chị họ của T1), HKTT: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật.
  4. (4). Công ty cổ phần T15, MST: 2301238680 (viết tắt là Công ty T15), do Trần Khắc C1, sinh năm 1974 (là anh họ của T1), trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật

Khi nhờ anh T7, chị T6, anh C1 đứng tên Giám đốc công ty thì T1 không nói cho họ biết việc thành lập công ty để mua bán trái phép hóa đơn GTGT. Bản thân những người này không tham gia quản lý, điều hành Công ty S1, Công ty S2 và Công ty T15, cũng không biết T1 sử dụng hóa đơn GTGT của 03 công ty này để thực hiện hành vi mua, bán trái phép hóa đơn GTGT khống.

Đối với Trần Thị T2, ngoài đứng tên giám đốc công ty S3, T1 thuê T2 làm kế toán nội bộ cho 05 công ty do T1 quản lý, điều hành. Khi khách hàng có nhu cầu mua hóa đơn khống, T1 chỉ đạo T2 lập hợp đồng nguyên tắc, biên bản giao nhận hàng hóa và viết hóa đơn giấy hoặc xuất hóa đơn điện tử khống cho khách hàng.

Sau khi sử dụng hóa đơn GTGT của 05 công ty xuất khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo) cho khách hàng với giá là 0,55% trên tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn (chưa bao gồm thuế VAT), T1 mua khống hóa đơn GTGT không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo của một số cá nhân do nhiều công ty xuất ra với giá là 0,45% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn để hợp thức hóa số hóa đơn GTGT đã xuất bán khống, nhằm thu lợi bất chính số tiền chênh lệch từ việc bán trái phép hóa đơn GTGT, cụ thể như sau:

1.1. Về hành vi bán trái phép hóa đơn GTGT (Đầu ra).

Khi khách hàng có nhu cầu mua hóa đơn GTGT khống thì cung cấp cho T1 thông tin pháp lý của Công ty, loại hàng hóa, số lượng, đơn giá... Sau đó, T1 chỉ đạo Trần Thị T2 lập các chứng từ gồm: Hợp đồng nguyên tắc, biên bản giao nhận hàng, phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT theo thông tin mà khách hàng gửi cho T1 trước đó. Sau khi lập xong, T2 chuyển hóa đơn (hóa đơn giấy), chứng từ cho T1 và những người đứng tên Giám đốc ký tên, đóng dấu. Sau đó, T1 giao cho T2 gửi chuyển phát nhanh hóa đơn, chứng từ khống này đến địa chỉ khách hàng yêu cầu (Đối với hóa đơn điện tử T2 lập và gửi vào địa chỉ Email của công ty nhận hóa đơn).

Để hợp thức hóa thủ tục thanh toán tiền qua ngân hàng, sau khi nhận được hóa đơn và các chứng từ kèm theo, khách mua hóa đơn sử dụng tài khoản của Công ty sử dụng hóa đơn khống chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của 05 Công ty D3 quản lý, điều hành đã xuất bán hóa đơn khống được thể hiện trên hợp đồng. Sau khi khách hàng chuyển tiền vào tài khoản của các công ty thì T1 chỉ đạo T2 sử dụng giấy rút tiền của Công ty X, Công ty S1, Công ty S2, Công ty S3 và Công ty T15 (có chữ ký của 05 người đứng tên giám đốc) để rút toàn bộ số tiền mà khách hàng vừa chuyển khoản thanh toán rồi đưa lại số tiền đó cho T1. Sau khi nhận được tiền, T1 giữ lại số tiền mua hóa đơn theo thoả thuận, tương ứng 0,55% giá trị tiền hàng ghi trên hoá đơn, số tiền còn lại T1 trả cho khách hàng bằng tiền mặt. Việc trả lại tiền cho khách mua hóa đơn như nêu trên giữa T1 và người mua hóa đơn không có sổ sách hay giấy tờ ghi chép.

Theo T1 khai nhận: Hầu hết những người mua hóa đơn liên hệ với T1 đều giới thiệu là nhân viên công ty nhận hóa đơn. Đến nay, T1 không nhớ được nhân thân, lai lịch của họ.

Với cách thức bán hóa đơn GTGT khống nêu trên, từ tháng 01/2022 đến tháng 06/2023, T1 đã sử dụng 911 số hóa đơn GTGT của 05 công ty (công ty X, công ty S1, công ty S2, công ty S3 và công ty T15) bán khống cho những người không quen biết xuất về 75 công ty với tổng số tiền hàng ghi trên hóa đơn là 673.750.316.633 đồng, tiền thuế là 67.375.031.663 đồng, với giá 0,55% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn.

Ngoài ra, T1 còn xuất bán khống 197 số hóa đơn GTGT, với tổng giá trị tiền hàng ghi trên hoá đơn là 150.969.044.015 đồng của 04 công ty (công ty S1, công ty S2, công ty S3 và công ty T15) cho công ty X để làm tăng lượng hàng hóa đầu vào cho công ty X rồi xuất bán khống hóa đơn GTGT (đầu ra) cho các công ty khác để hưởng lợi.

Như vậy, tổng số hóa đơn GTGT T1 đã xuất bán khống là 1.108 số hóa đơn đã ghi nội dung, với tổng giá trị tiền hàng chưa thuế là 824.719.360.648 đồng, tiền thuế là 84.471.936.064 đồng.

2. Hành vi mua trái phép hóa đơn GTGT (Đầu vào).

Sau khi sử dụng hóa đơn GTGT của 05 công ty bán khống cho khách hàng, T1 tìm kiếm, liên hệ mua hóa đơn GTGT khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo) của nhiều cá nhân với giá 0,45% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn nhằm hợp thức hóa số lượng hàng hóa trên các số hóa đơn đã bán khống. Khi cần mua hóa đơn, T1 gửi thông tin pháp lý công ty do T1 làm giám đốc (công ty X); các công ty do T1 quản lý, điều hành, số lượng hàng hóa, đơn giá, loại mặt hàng cần viết hóa đơn cho những người bán hóa đơn GTGT khống để lập Hợp đồng mua bán, phiếu xuất kho, biên bản giao nhận hàng hóa và xuất hóa đơn GTGT cho T1. Sau đó, người bán hóa đơn hoàn tục các thủ tục rồi giao hóa đơn, chứng từ, đã được đại diện các công ty xuất hóa đơn ký tên đóng dấu cho T1.

Để hợp thức thanh toán cho các hóa đơn GTGT khống này, T1 sử dụng tài khoản của công ty do T1 làm Giám đốc (Công ty X), các Công ty do T1 quản lý chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của công ty xuất hóa đơn GTGT. Sau đó, người bán hóa đơn GTGT khống rút tiền mặt trả lại cho T1 hoặc chuyển khoản vào số tài khoản 43310000159536 mở tại ngân hàng B2 mang tên Trần Thị N (là vợ T1) hoặc số tài khoản khác do T1 yêu cầu. Tiền mua hóa đơn GTGT khống theo thỏa thuận là 0,45% tổng giá trị hàng hóa (chưa bao gồm thuế VAT) được T1 và người bán hóa đơn thanh toán tiền mặt vào cuối tháng nhưng không có giấy tờ, sổ sách ghi chép lại.

Với cách thức nêu trên, Trần Văn T1 đã mua các hóa đơn GTGT khống của các đối tượng gồm:

  1. (1) Trần Thị T9, sinh năm 1994, HKTT: Khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh là người quản lý và điều hành mọi hoạt động của 05 công ty (Công ty TNHH T16, MST: 2301187732; Công ty TNHH K1, MST: 2301199417; Công ty TNHH K2, MST: 2301198519; Công ty TNHH S1, MST: 2301189338; Công ty TNHH T17, MST: 2301225642; cùng đăng ký địa chỉ hoạt động tại: phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh). Trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 03/2023, T1 đã mua của T9 46 số hóa đơn GTGT khống, không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo do 05 công ty trên xuất cho công ty X, với tổng giá trị tiền hàng là 34.622.871.424 đồng. T1 đã trả cho T9 số tiền mua hoá đơn GTGT khống là: 34.622.871.424 đ x 0,45% = 155.802.921 đồng.
  2. (2) Trần Thị T10, sinh năm 1984, HKTT: Khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh là giám đốc, người quản lý và điều hành mọi hoạt động của Công ty TNHH T18, MST: 2301209601, địa chỉ hoạt động tại: phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Trong thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2022, T1 đã mua của T10 44 số hóa đơn GTGT khống, không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo xuất cho công ty X với tổng giá trị tiền hàng là 42.628.675.125 đồng. T1 đã trả cho T10 số tiền mua hoá đơn GTGT khống là: 42.628.675.125 đ x 0,45% = 191.829.038 đồng.
  3. (3) Nguyễn Văn A, sinh năm 1998, HKTT: thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Trong thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 6/2023, T1 đã mua của A 268 số hóa đơn GTGT khống, không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo của 17 công ty do A quản lý, điều hành (trong đó 238 hóa đơn xuất cho công ty X, 30 hóa đơn xuất cho công ty T15), với tổng giá trị tiền hàng là: 217.941.374.851 đồng. T1 đã trả cho A số tiền mua hoá đơn GTGT khống là: 217.941.374.851 đ x 0,45% = 980.736.187 đồng.
  4. (4) Trần Thị H2, sinh năm 1985, HKTT: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh là người quản lý và điều hành mọi hoạt động của 05 công ty (Công ty TNHH K3, MST: 0109697685; Công ty TNHH S4, MST: 5400531075; Công ty TNHH K4, MST: 0110044232; Công ty TNHH Đ1, MST: 0700862738; Công ty TNHH S5, MST: 0109722469; đăng ký địa chỉ kinh doanh tại thành phố Hà Nội, các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình). Trong thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 3/2023, T1 đã mua của H2 320 số hóa đơn GTGT khống, không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo do 05 công ty trên xuất cho công ty S2, công ty S1 và công ty S3, với tổng giá trị tiền hàng (chưa bao gồm thuế VAT) là: 376.980.281.463 đồng. T1 đã trả cho Hằng số tiền mua hoá đơn GTGT khống là: 376.980.281.463 đ x 0,45% = 1.696.411.267 đồng.

Như vậy, Trần Văn T1 đã mua khống 678 số hóa đơn GTGT của 28 Công ty xuất ra với tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là 672.173.202.863 đồng, tiền thuế là 67.217.320.286 đồng với giá 0,45% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn.

* Về số tiền thu lợi bất chính:

- T1 đã bán khống 1.108 số hóa đơn GTGT của 05 công ty do T1 điều hành, xuất bán cho 75 công ty, với tổng giá trị tiền hàng chưa thuế hóa đơn là 824.719.360.648 đồng. Trong đó, xuất 197 số hóa đơn của 04 công ty gồm: Công ty S1, Công ty S2, Công ty S3 và Công ty T15 cho Công ty X với tổng giá trị tiền hàng chưa thuế trên hóa đơn là 150.969.044.015 đồng. 05 công ty này đều do T1 quản lý, điều hành, việc xuất hóa đơn cho công ty X là để hợp thức hàng hóa đầu vào, không phát sinh tiền mua, bán hóa đơn. Do đó:

- Số tiền Trung thu, nhận được từ việc xuất bán khống 1.108 hóa đơn trên được tính như sau: (824.719.360.648 đồng - 150.969.044.015 đồng) x 0,55% = 3.705.626.741 đồng.

- Số tiền T1 phải trả để mua khống 678 tờ hóa đơn đầu vào cho 05 công ty là: 672.173.202.863 đồng x 0,45% = 3.024.779.412 đồng.

Tổng số hóa đơn GTGT do Trần Văn T1 đã mua, bán khống là 1.786 số hóa đơn, được hưởng lợi số tiền: Tiền bán hóa đơn - T11 mua hóa đơn = 3.705.626.741 đồng - 3.024.779.412 đồng = 680.847.329 đồng.

* Về kê khai, báo cáo thuế: Để làm báo cáo thuế hàng tháng, quý và báo cáo tài chính, Trần Văn T1 thuê chị Lê Hồng H, sinh năm 1975, trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh làm kế toán thuế thời vụ. Đến kỳ báo cáo thuế, Trung chuyển các hóa đơn, chứng từ của 05 công ty do T1 quản lý, điều hành cho chị H để kê khai báo cáo thuế. T1 không trao đổi cho chị H biết việc mua, bán trái phép hóa đơn. Bản thân chị H không biết T1 mua bán trái phép hóa đơn, không đến Công ty làm việc chỉ làm kế toán báo cáo thuế cho các công ty của T1 theo các hóa đơn, chứng từ do Trung chuyển cho.

* Tiến hành xác minh các Công ty xuất hóa đơn khống cho Trần Văn T1, kết quả: Tổng số các Công ty đã xuất hoá đơn cho các công ty của T1 (đầu vào) là 28 Công ty. Trong đó có 05 công ty do Trần Thị T9 quản lý, điều hành; 05 công ty do Trần Thị H2 quản lý, điều hành; 01 công ty do Trần Thị T10 quản lý, điều hành; 17 công ty do Nguyễn Văn A (là bị can trong vụ án) quản lý, điều hành. Các công ty này đều không có hoạt động sản xuất kinh doanh, được các cá nhân thành lập để mua, bán trái phép hóa đơn. Hành vi của T9, T10, H2 bán khống hóa đơn cho T1 đã bị xét xử theo Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

* Tiến hành xác minh những Công ty sử dụng hóa đơn khống của Trần Văn T1: Trần Văn T1 đã bán hóa đơn GTGT cho 74 công ty (trong đó: 22 công ty sử dụng dưới 10 tờ hóa đơn hoặc tổng tiền thuế dưới 100 triệu đồng). Quá trình điều tra, người đại diện của 74 công ty này trình bày có mua hàng thật qua đối tượng trung gian không rõ lai lịch, giới thiệu là nhân viên kinh doanh của công ty X; công ty S1; công ty S2; công ty S3 và công ty T15. Đồng thời, các công ty đều cung cấp được các hợp đồng, hóa đơn, chứng từ liên quan đến việc giao dịch, mua bán hàng hóa với 05 công ty của T1. Căn cứ tài liệu thu thập được đến nay chưa đủ cơ sở để xác định 74 công ty này đã mua khống hóa đơn của Trần Văn T1 để trốn thuế hoặc mua bán trái phép hóa đơn.

2. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn A, sinh năm 1998, HKTT: Thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Khoảng giữa năm 2022, Nguyễn Văn A làm nghề lái xe ở khu vực phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, A thấy có nhiều người có nhu cầu mua hóa đơn GTGT nên từ khoảng tháng 9/2022 đến tháng 06/2023, A đã thành lập 07 công ty để kinh doanh và xuất bán các hóa đơn GTGT khống, với giá 0,45% trên tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn nhằm mục đích hưởng lợi. A nhờ một số cá nhân là người thân, người quen đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật, tuy nhiên thực tế việc quản lý, điều hành mọi hoạt động của các công ty này đều do A trực tiếp thực hiện, gồm:

  1. (1). Công ty TNHH S1 (viết tắt là Công ty S1), MST: 2301194338, do Trần Thị T6, sinh năm 1974 (là dì ruột của A), trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật.
  2. (2). Công ty TNHH S6 (viết tắt là Công ty S6), MST: 2301221101;
  3. (3). Công ty TNHH S7 (viết tắt là Công ty S7), MST: 2301221126;

Hai công ty trên do Trần Đức Q1, sinh năm 2001, trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật.

  1. (4). Công ty TNHH S8 (viết tắt là Công ty S8), MST: 2301225219;
  2. (5). Công ty TNHH K5 (viết tắt là Công ty K5), MST: 2301231452;

Hai công ty trên do Trần Văn C, sinh năm 1981, trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật.

  1. (6). Công ty TNHH S9 (viết tắt là Công ty S9), MST: 2301230875, do Lưu Thị L2, sinh năm 1981, trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật.
  2. (7). Công ty TNHH K6 (viết tắt là Công ty K6), MST: 2301236958 do Đỗ Văn T5, sinh năm 2001, trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật.

Khi nhờ chị T6, anh Q1, anh C, chị L2, anh T5 đứng tên Giám đốc Công ty thì A không nói cho họ biết việc thành lập Công ty để mua bán trái phép hóa đơn GTGT. Bản thân 05 người này không tham gia quản lý, điều hành 07 Công ty trên và không biết A sử dụng hóa đơn GTGT của 07 Công ty để thực hiện hành vi bán trái phép hóa đơn GTGT khống. Theo thỏa thuận, A trả tiền thuê 05 người đứng tên Giám đốc 07 công ty là 10.000.000 đồng/người/tháng khi công ty có hoạt động. Số tiền A đã trả cho chị T6 là 50.000.000 đồng; anh Q1 là 100.000.000 đồng; anh C 90.000.000 đồng; chị L2 50.000.000 đồng; anh T5 20 triệu đồng. Tổng số, A đã trả tiền thuê 05 người đứng tên Giám đốc là 310.000.000 đồng.

Quá trình quản lý 07 công ty trên, A thuê Trần Thị T2 làm kế toán nội bộ, giúp A soạn thảo hợp đồng, biên bản giao hàng, xuất hóa đơn khống và rút tiền, chuyển tiền theo chỉ đạo của A, T2 được A trả công là 15.000.000/tháng. Từ tháng 12/2022 đến tháng 05/2023, A đã trả cho T2 tổng số tiền 90.000.000 đồng.

Sau khi bán khống các số hóa đơn của 07 công ty trên cho khách hàng, A liên hệ với người phụ nữ tên D1 qua mạng xã hội Facebook (không rõ họ, tuổi, địa chỉ cụ thể, tên tài khoản Facebook) và mua lại các công ty của D1 với giá thỏa thuận là 130 triệu đồng/công ty, mục đích sử dụng hóa đơn của các công ty này xuất khống về 07 công ty do A thành lập và bán khống hóa đơn cho khách hàng có nhu cầu. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến 6/2023, A mua của D1 17 công ty gồm:

  1. (1). Công ty TNHH T19 (viết tắt là Công ty T19), MST: 0110164314, địa chỉ trụ sở tại Tầng A, Tòa nhà L, số A, đường K, phường N, quận T, thành phố Hà Nội, do Võ Thị T12, sinh năm 1994, trú tại tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng đứng tên giám đốc.
  2. (2). Công ty TNHH MTV S10 (viết tắt là Công ty S10), MST: 0110164787, địa chỉ trụ sở tại Tầng F tòa nhà M, số F đường N, phường C, quận N, thành phố Hà Nội, do Lê Hoàng N1, sinh năm 1979, trú tại ấp V, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu đứng tên giám đốc.
  3. (3). Công ty TNHH K1 (viết tắt là Công ty K1), MST: 0402173073, địa chỉ trụ sở tại Tầng C, Số E Đường C, Phường T, Quận H, Thành phố Đà Nẵng, do Phan Đức T13, sinh năm 1980, trú tại số A đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đứng tên giám đốc.
  4. (4). Công ty TNHH S11 (viết tắt là Công ty S11), MST: 0110209484. địa chỉ trụ sở tại Tầng D, Tòa nhà A, Số C Phố H, Phường Ô, Quận Đ, Thành phố Hà Nội, do Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang đứng tên giám đốc.
  5. (5). Công ty TNHH T20 (viết tắt là Công ty T20), MST: 0110247105, địa chỉ trụ sở tại Số A Phố C, Phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội, do Nguyễn Đình Q2, sinh năm 1995, trú tại xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đứng tên giám đốc.
  6. (6). Công ty cổ phần K7 (viết tắt là Công ty K7), MST: 0110260610, địa chỉ trụ sở tại Tầng D Tòa nhà O, Số A Đường Đ, Phường P, Quận Đ, Thành phố Hà Nội, do Nguyễn Mạnh Q3, sinh năm 1992, trú tại phòng 321 – C tập thể K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội đứng tên giám đốc.
  7. (7). Công ty TNHH T21 (viết tắt là Công ty T21), MST: 0110260226, địa chỉ trụ sở tại Lô B, Khu Đ, Xã T, Huyện T, Thành phố Hà Nội, do Hoàng Trung N2, sinh năm 1997, trú tại khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đứng tên giám đốc.
  8. (8). Công ty cổ phần T22 (viết tắt là Công ty T22), MST: 0110262093, địa chỉ trụ sở tại Tầng 1 Tòa M, Số F Phố T, Phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội, do Nguyễn Định H3, sinh năm 1999, trú tại xóm H, xã T, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đứng tên giám đốc.
  9. (9). Công ty TNHH T23 (viết tắt là Công ty T23), MST: 0110264478, địa chỉ trụ sở tại P Tầng D, Tòa C5 Vinhomes D'capitale, Đường T, Phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội, do Vũ Ngọc V, sinh nă 2002, trú tại thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình đứng tên giám đốc.
  10. (10). Công ty cổ phần T24 (viết tắt là Công ty T24), MST: 0110294874, địa chỉ trụ sở tại Tầng B, V Khu đô thị M, Phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội, do Bùi Hoàng V1, sinh năm 2003, trú tại tổ A, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đứng tên giám đốc.
  11. (11). Công ty cổ phần S9 (viết tắt là Công ty S9), MST: 0110299618, địa chỉ trụ sở tại Thôn T, Xã T, Huyện M, Thành phố Hà Nội, do Mai Đức Đ, sinh năm 2003, trú tại số C tổ A phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đứng tên giám đốc.
  12. (12). Công ty cổ phần K2 (viết tắt là Công ty K2), MST: 0110302331, địa chỉ trụ sở tại Số C Ngách B Ngõ T, Phường Q, Quận Đ, Thành phố Hà Nội, do Bùi Thế H4, sinh năm 1983, trú tại thôn A, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội đứng tên giám đốc.
  13. (13). Công ty TNHH S12 (viết tắt là Công ty S12), MST: 0110311819, địa chỉ trụ sở tại Số nhà A Ngách A, Xã T, Huyện T, Thành phố Hà Nội, do Vũ Thị Ngọc M, sinh năm 2001, trú tại xóm F, thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đứng tên giám đốc.
  14. (14). Công ty cổ phần K2 (viết tắt là Công ty K2), MST: 0110306752, địa chỉ trụ sở tại Tầng F, Tòa nhà G Khu đô thị V, Số G Đại Lộ T, Phường M, Quận N, Thành phố Hà Nội, do Nguyễn Đình H5, sinh năm 1994, trú tại Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đứng tên giám đốc.
  15. (15). Công ty cổ phần K7 (viết tắt là Công ty K7), MST: 0110310269, địa chỉ trụ sở tại Số A, tầng G, Tòa nhà C, số A Đường T, Phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội, do Đôn Minh Q4, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên giám đốc.
  16. (16). Công ty cổ phần T25 (viết tắt là Công ty T25), MST: 0110313171, địa chỉ trụ sở tại Căn T, khu K, đường L, Phường T, Quận L, Thành phố Hà Nội, do Vũ Ngọc S, sinh năm 1996, trú tại số C, ngõ I, đường N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội đứng tên giám đốc.
  17. (17). Công ty cổ phần K8 (viết tắt là Công ty K8), MST: 0801394772, địa chỉ trụ sở tại Số A B T, Phường P, Thành phố H, Tỉnh Hải Dương, do Lương Khương D2, sinh năm 2001, trú tại thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương đứng tên giám đốc.

Tổng số tiền mua lại 17 công ty trên của D1 là 2.210.000.000 đồng, A đã trả cho D1 bằng tiền mặt. Sau khi mua lại công ty, A giao cho D1 quản lý con dấu, chữ ký số của 17 công ty trên mục đích nhờ D1 lập hợp đồng nguyên tắc, biên bản giao nhận hàng và thực hiện việc xuất hóa đơn GTGT khống về các công ty theo yêu cầu của A.

Nguyễn Văn A đã thực hiện hành vi mua, bán trái phép hóa đơn liên quan 24 công ty (07 công ty A1 thành lập và 17 công ty A1 mua lại) như sau:

2.1. Về hành vi bán trái phép hóa đơn GTGT (Đầu ra).

Khi khách hàng liên hệ mua hóa đơn GTGT khống thì A thỏa thuận giá bán là 0,45% tổng giá trị tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đơn. Nếu khách hàng đồng ý thì cung cấp cho A thông tin pháp lý của Công ty, loại hàng hóa, số lượng, đơn giá... Sau đó, A chỉ đạo Trần Thị T2 hoặc Dương lập các chứng từ gồm: Hợp đồng nguyên tắc, biên bản giao nhận hàng, phiếu xuất kho theo thông tin mà khách hàng gửi cho A trước đó. Đối với 07 công ty do A thành lập, T2 mang hợp đồng, biên bản giao nhận hàng và các chứng từ khác gặp những người đứng tên Giám đốc để ký tên và đóng dấu rồi gửi chuyển phát nhanh các chứng từ này cho khách hàng. Đồng thời, A chỉ đạo T2 sử dụng USB Token đăng nhập vào ứng dụng lập hóa đơn điện tử của các công ty để xuất khống hóa đơn (hóa đơn điện tử được tự động chuyển vào Email của các công ty khách hàng). Đối với 17 công ty do A mua lại thì D1 ký tên giám đốc, đóng dấu vào hoá đơn, chứng từ rồi gửi chuyển phát nhanh cho A.

Để hợp thức hóa thủ tục thanh toán tiền qua ngân hàng, sau khi nhận được hóa đơn và các chứng từ kèm theo, khách mua hóa đơn sử dụng tài khoản của Công ty sử dụng hóa đơn khống chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của công ty do A quản lý, điều hành đã xuất bán hóa đơn khống được thể hiện trên hợp đồng. Sau khi nhận được tiền, A hoặc T2 thực hiện việc chuyển khoản Internetbanking toàn bộ số tiền này đến tài khoản của 17 công ty do A mua lại, sau đó chuyển khoản đến số tài khoản 106619982268 mang tên Nguyễn Văn A mở tại ngân hàng V2 (hoặc chuyển thẳng đến số tài khoản của A mà không thông qua tài khoản của các công ty). A giữ lại tiền bán hóa đơn theo thỏa thuận là 0,45% và chuyển khoản số tiền còn lại đến các tài khoản mà khách hàng yêu cầu (hoặc chỉ đạo Trần Thị T2 rút tiền mặt trả khách hàng). Việc hợp thức giao dịch qua ngân hàng được thống nhất thực hiện vào cuối tháng. Tiền mua hóa đơn A sẽ trừ vào cuối tháng khi thực hiện giao dịch qua ngân hàng hoặc trả tiền mặt. Việc trả lại tiền cho khách mua hóa đơn như nêu trên giữa A và người mua hóa đơn không có sổ sách hay giấy tờ ghi chép.

Với cách thức bán hóa đơn GTGT khống nêu trên, từ tháng 9/2022 đến tháng 06/2023, Nguyễn Văn A đã sử dụng hóa đơn của 19 công ty (công ty S1, công ty S7, công ty S8, công ty S9, công ty K5, công ty S6, công ty K6, công ty S11, công ty T21, công ty T22, công ty T24, công ty S9, công ty K2, công ty K2, công ty K7, công ty T25, công ty K1, công ty S10, công ty T23) bán khống 969 số hóa đơn GTGT khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo) đã ghi đầy đủ nội dung xuất về 32 công ty với tổng giá trị tiền hàng được ghi trên hóa đơn (chưa bao gồm thuế VAT) là: 754.422.569.787 đồng, tiền thuế là 75.442.256.978 đồng, với giá 0,45% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn.

Quá trình điều tra đã xác định được các đối tượng mua hoá đơn GTGT khống từ công ty do A quản lý, điều hành như sau:

  1. (1) Trần Văn T1 (bị can trong vụ án): A đã bán khống cho T1 268 số hóa đơn, xuất về công ty X và công ty T15, với tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là: 217.941.374.851 đồng, tiền thuế là 21.794.137.484 đồng. T1 đã trả cho A số tiền mua các hóa đơn GTGT khống là: 217.941.374.851 đ x 0,45% = 980.736.187 đồng.
  2. (2) Trần Thị T10, sinh năm 1984, HKTT: Khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh là giám đốc, người quản lý và điều hành mọi hoạt động của Công ty TNHH T18, MST: 2301209601. A bán cho T10 tổng số: 16 hóa đơn GTGT khống với tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là: 7.662.623.873 đồng, tiền thuế là 766.262.387 đồng. T10 đã trả cho A số tiền mua các hóa đơn GTGT khống là: 7.662.623.873 đồng x 0,45% = 34.481.807 đồng.

Đối với 685 số hóa đơn còn lại, A bán khống cho nhiều người tự giới thiệu là nhân viên của công ty nhận hóa đơn. Đến nay, A không nhớ được nhân thân, lai lịch của họ.

2.1. Về hành vi mua trái phép hóa đơn GTGT (Đầu vào).

Để hợp thức số lượng hàng hóa trên các số hóa đơn đã bán khống, A chỉ đạo Dương lập hợp đồng nguyên tắc, biên bản giao nhận hàng, ký tên Giám đốc trên các chứng từ và thực hiện việc xuất hóa đơn GTGT của 17 công ty (được A mua lại) về 07 công ty (do A thành lập): Công ty S1, Công ty S7, Công ty T26, Công ty S9, Công ty K5, Công ty S6 và Công ty K6.

Để hợp thức giao dịch thanh toán qua ngân hàng, A hoặc T2 sẽ đăng nhập vào tài khoản của một trong 07 công ty (Công ty S1, Công ty S7, Công ty T26, Công ty S9, Công ty K5, Công ty S6, Công ty K6) chuyển tiền Interbanking đến một trong các số tài khoản của 17 công ty theo hợp đồng và hóa đơn đã xuất. Sau đó, A hoặc T2 đăng nhập vào tài khoản của 17 công ty xuất hóa đơn thực hiện chuyển khoản toàn bộ số tiền đó đến số tài khoản 106619982268 mở tại ngân hàng V3 mang tên Nguyễn Văn A.

Với cách thức như trên trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 6/2023, A sử dụng 931 số hóa đơn GTGT không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo của 17 công ty (công ty T19, công ty S11, công ty T20, công ty T21, công ty K7, công ty T22, công ty T24, công ty S9, công ty K2, công ty K2, công ty K7, công ty S12, công ty T25, công ty K1, công ty S10, công ty T23, công ty K8) để kê khai đầu vào cho 07 công ty do A thành lập. Tổng trị giá tiền hàng ghi trên hóa đơn là 690.712.838.174 đồng, tiền thuế là 69.071.283.817 đồng.

* Về số tiền thu lợi bất chính:

- Số tiền A nhận được từ việc bán khống 969 số hóa đơn GTGT (đầu ra) là 754.422.569.787 đ x 0,45% = 3.394.901.563 đồng.

- Số tiền A chi phí để điều hành, hoạt động 24 công ty (T11 mua 17 công ty + Tiền thuê 05 người đứng tên Giám đốc + Tiền công trả cho T2) là: 2.210.000.000 đ + 310.000.000 đ + 90.000.000 đ = 2.610.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay chỉ có lời khai duy nhất của A về việc chi số tiền 2.210.000.00 đồng để mua 17 công ty của D1.

Như vậy, tổng số tiền An hưởng lợi từ việc mua bán trái phép hóa đơn là: 3.394.901.563 đồng.

* Về kê khai, báo cáo thuế: Để làm báo cáo thuế hàng tháng, quý và báo cáo tài chính, Nguyễn Văn A thuê chị Ngô Thị Kim H1, sinh năm 1988, trú tại khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh làm kế toán thuế thời vụ. Đến kỳ báo cáo thuế, A chuyển các hóa đơn, chứng từ của 07 công ty do A quản lý, điều hành cho chị H1 để kê khai báo cáo thuế. A không trao đổi cho chị H1 biết việc mua, bán trái phép hóa đơn. Bản thân chị H1 không biết A mua bán trái phép hóa đơn, không đến Công ty làm việc chỉ làm kế toán báo cáo thuế cho các công ty của A theo các hóa đơn, chứng từ do A chuyển cho.

* Tiến hành xác minh các Công ty xuất hóa đơn khống cho Nguyễn Văn A, kết quả: Đối với 17 công ty đã xuất hóa đơn khống cho A, quá trình điều tra xác định các công ty này đều không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, các cá nhân đứng tên Giám đốc, đại diện theo pháp luật của công ty đều khẳng định không tự đứng tên thành lập công ty, không được ai nhờ, thuê thành lập công ty và không ký bất cứ chứng từ gì liên quan đến công ty mà mình đang đứng tên Giám đốc. Căn cứ tài liệu do các cơ quan quản lý thuế của các công ty trên cung cấp xác định các hóa đơn xuất khống của 17 công ty này đã được kê khai thuế tại cơ quan thuế.

* Tiến hành xác minh những Công ty sử dụng hóa đơn khống của Nguyễn Văn A: Nguyễn Văn A bán hóa đơn của 19 công ty (07 công ty do A thành lập và 12 công ty do A mua của D1) cho 32 công ty. Quá trình điều tra xác định: 02 công ty (Công ty T18 và Công ty X) đã xử lý trong vụ án này; còn 30 công ty trình bày mua hàng thật qua đối tượng trung gian không rõ lai lịch giới thiệu là nhân viên kinh doanh của 19 công ty do A quản lý, điều hành; không trực tiếp giao dịch với Giám đốc hay người quản lý công ty. Mặt khác, tại sao kê tài khoản của 19 công ty nhận thấy các mã rút tiền, chuyển tiền trên tài khoản đều do Nguyễn Văn A hoặc Trần Thị T2 thực hiện hoặc được chuyển khoản đến tài khoản của A. Đến nay chưa đủ cơ sở để xác định các đơn vị doanh nghiệp này đã mua khống hóa đơn của Nguyễn Văn A để trốn thuế hoặc mua bán trái phép hóa đơn.

3. Hành vi phạm tội của Trần Thị T2, sinh năm 1988, HKTT: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

3.1. Hành vi giúp sức cho Trần Văn T1 thực hiện việc bán trái phép hóa đơn:

Khoảng tháng 12/2021, Trần Văn T1 (em họ T2) nhờ Thìn đứng tên thành lập Công ty TNHH S3 (viết tắt là công ty S3), MST: 2301194673 và thuê T2 làm kế toán nội bộ cho T1. Nhiệm vụ của T2 là lập hợp đồng, viết hóa đơn (đối với hóa đơn giấy) hoặc lập hóa đơn điện tử, biên bản giao nhận hàng của công ty S3; công ty X, công ty S2, công ty S1 và công ty T15 với khách hàng; thực hiện các giao dịch rút tiền, chuyển tiền tài khoản của 05 công ty này.

Quá trình làm việc cho T1 từ tháng 01/2022 đến tháng 6/2023, T2 biết T1 xuất khống hóa đơn GTGT của 05 công ty trên cho khách hàng nhưng vẫn đồng ý giúp sức cho T1 trong việc lập khống hợp đồng, biên bản giao nhận hàng, viết hóa đơn giấy, lập hóa đơn điện tử để xuất khống 1.108 số hóa đơn của công ty X, công ty S1, công ty S2, công ty S3 và công ty T15 để bán hóa đơn cho khách hàng. Đối với việc mua hóa đơn đầu vào để kê khai cho 05 công ty trên do Trung trực tiếp trao đổi, thống nhất với cá nhân bán hóa đơn. Thìn không biết, không được T1 trao đổi về việc mua khống hóa đơn. T1 trả công cho T2 5.000.000 đồng/tháng, tổng số tiền T2 nhận được trong 18 tháng làm việc cho T1 là 90.000.000 đồng.

3.2. Hành vi giúp sức cho Nguyễn Văn A thực hiện việc bán trái phép hóa đơn:

Khoảng tháng 10/2022, Trần Văn T1 tạm ngừng hoạt động của công ty S1, công ty S2, công ty S3, công ty T15. Do trước đó Nguyễn Văn A biết T2 làm kế toán nội bộ cho các công ty của T1 nên A đã gặp và đề nghị T2 làm kế toán nội bộ, thực hiện các công việc lập hợp đồng, biên bản giao nhận hàng, lập hóa đơn điện tử cho 07 công ty của A gồm: công ty S1, công ty S6, công ty S7, công ty S8, công ty K5; công ty S9 và công ty K6 cho A; thực hiện các giao dịch chuyển tiền, rút tiền từ ngân hàng.

Quá trình làm việc cho A từ tháng 12/2022 đến tháng 05/2023 T2 biết các công ty của A không có hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, khi A chỉ đạo T2 lập khống các hợp đồng nguyên tắc, biên bản giao nhận hàng, xuất bán khống hóa đơn của 07 công ty trên cho khách hàng, thực hiện việc đăng nhập tài khoản ngân hàng của 07 công ty này hợp thức giao dịch chuyển khoản đến 17 công ty đầu vào và đăng nhập vào các số tài khoản của 17 công ty để chuyển khoản trả khách hàng, T2 đồng ý thực hiện. Kết quả điều tra xác định, T2 đã giúp sức cho A bán khống 890 tờ hóa đơn GTGT của các công ty gồm: công ty S1, công ty S6, công ty S7, công ty S8, công ty K5; công ty S9 và công ty K6.

Đối với việc xuất khống hóa đơn của 17 công ty (A mua lại của D1) để hợp thức hóa đầu vào cho 07 công ty (A thành lập) do A chỉ đạo D1 thực hiện, A không trao đổi, thống nhất cho T2 biết. Bản thân T2 không biết, không được A trao đổi về việc mua khống hóa đơn. Thìn được A trả công 15.000.000 đồng/tháng, số tiền T2 nhận được trong 6 tháng làm việc cho A là 90.000.000 đồng.

Như vậy, T2 đã giúp sức cho T1 và A bán khống tổng số 1.998 số hóa đơn GTGT đã ghi đầy đủ nội dung của 12 công ty xuất về 104 công ty, được hưởng lợi tổng số tiền 180.000.000 đồng.

* Về vật chứng:

  • 10 con dấu tròn Công ty và dấu chức danh giám đốc; 16 USB Token của các Công ty.
  • Tiền Việt Nam 1.645.750.000 đồng là tiền hưởng lợi bất chính do các bị can giao nộp (trong đó: Trần Văn T1 nộp 680.848.000 đồng, Nguyễn Văn A nộp 784.902.000 đồng, Trần Thị T2 nộp 180.000.000 đồng).

Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 51/CT-VKSBN-P1 ngày 30/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn A, Trần Văn T1 và Trần Thị T2 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Các bị cáo trình bày do có nhiều người đến hỏi mua hóa đơn và hám lợi nên các bị cáo đã mua bán trái phép hóa đơn, các bị cáo đã nhận thức được sai phạm và tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, trước khi xét xử sơ thẩm các bị cáo T1 và T2 đều nộp thêm một khoản tiền để đảm bảo thi hành án. Các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội xác định: Tổng số hóa đơn Trần Văn T1 đã mua, bán khống là 1.786 số hóa đơn và hưởng lợi bất chính số tiền là 590.847.329 đồng; tổng số hóa đơn Nguyễn Văn A đã mua, bán khống là 1.900 số hóa đơn và hưởng lợi bất chính số tiền là 3.304.901.563 đồng; Trần Thị T2 giúp sức cho T1 và A xuất bán khống tổng số 1.998 số hóa đơn của 12 công ty (trong đó giúp T1 bán khống 1.108 số hóa đơn GTGT của 05 công ty; giúp A bán khống 890 tờ hóa đơn GTGT của 07 công ty), hưởng lợi 180.000.000 đồng. Đồng thời giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, đã đề nghị HĐXX: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A, Trần Văn T1 và Trần Thị T2 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.

* Về hình phạt: Áp dụng điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

  • Nguyễn Văn A từ 24 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

  • Trần Văn T1 từ 400 triệu đồng đến 450 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.
  • Trần Thị T2 từ 350 triệu đồng đến 400 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền các bị cáo thu lợi bất chính, cụ thể: Nguyễn Văn A phải nộp 3.304.901.563 đồng; Trần Văn T1 phải nộp 590.847.329 đồng; Trần Thị T2 phải nộp 180.000.000 đồng.

Xác nhận bị cáo A đã nộp 3.304.902.000 đồng; bị cáo T1 đã nộp 680.848.000 đồng; bị cáo T2 đã nộp 180.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tạm giữ số tiền các bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu tiêu hủy 10 con dấu và 16 chiếc USB Token các loại đã thu giữ

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn A phát biểu đồng ý về tội danh và khung hình phạt như cáo trạng truy tố. Luật sư cho rằng bị cáo A có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như Viện kiểm sát đã đề nghị, ngoài ra, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS vì bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo A.

Bị cáo Nguyễn Văn A nhất trí với quan điểm bào chữa của luật sư và không bổ sung gì thêm.

Đối đáp với quan điểm của luật sư, đại diện Viện kiểm sát không nhất trí đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo A vì bị cáo chỉ nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên theo án lệ bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đối với đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo lập nhiều công ty với mục đích mua bán hóa đơn trái phép để hưởng lợi nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Vì vậy, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã luận tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vì vậy có đủ cơ sở kết luận:

1. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 6/2023, với vai trò là giám đốc và người quản lý, điều hành mọi hoạt động của 05 Công ty đều có địa chỉ trụ sở tại phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (công ty X, công ty S1, công ty S2, công ty S3 và công ty T15), Trần Văn T1 sử dụng 1.108 số hóa đơn GTGT đã ghi đầy đủ nội dung của 05 công ty trên bán khống cho những người không quen biết xuất về 75 công ty với tổng số tiền hàng ghi trên hóa đơn là 824.719.360.648 đồng, tiền thuế là 84.471.936.064 đồng, với giá 0,55% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Sau đó, T1 mua khống 678 số hóa đơn GTGT của Trần Thị T9, Trần Thị T10, Trần Thị H2 và Nguyễn Văn A do 28 Công ty xuất ra cho 05 công ty của T1, tổng số giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là 672.173.202.863 đồng, tiền thuế là 67.217.320.286 đồng, với giá 0,45% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. T1 trả công cho T2 tiền giúp sức việc mua bán hóa đơn là 90.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số hóa đơn Trần Văn T1 đã mua, bán khống là 1.786 số hóa đơn và hưởng lợi bất chính số tiền là 590.847.329 đồng.

2. Trong khoảng thời gian từ tháng 09/2022 đến tháng 6/2023, với vai trò là người quản lý, điều hành mọi hoạt động của 24 Công ty, trong đó 07 công ty do A thành lập đều có địa chỉ trụ sở tại phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Công ty S1, Công ty S7, Công ty T26, Công ty S9, Công ty K5, Công ty S6, Công ty K6) và 17 công ty do A mua lại với tổng số tiền 2.210.000.000 đồng của người phụ nữ tên D1 (công ty T19, công ty S11, công ty T20, công ty T21, công ty K7, công ty T22, công ty T24, công ty S9, công ty K2, công ty K2, công ty K7, công ty S12, công ty T25, công ty K1, công ty S10, công ty T23, công ty K8), Nguyễn Văn A sử dụng 969 số hóa đơn GTGT đã ghi đầy đủ nội dung của 19 công ty trong số 24 công ty trên bán khống cho Trần Văn T1, Trần Thị T10 và những người không quen biết xuất về 32 công ty với tổng số tiền hàng ghi trên hóa đơn là 754.422.569.787 đồng, tiền thuế là 75.442.256.978 đồng, với giá 0,45% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Sau đó, A đã xuất khống 931 số hóa đơn GTGT của 17 công ty do A mua lại để kê khai hoá đơn đầu vào cho 07 công ty do A thành lập, tổng số giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là 690.712.838.174 đồng, tiền thuế là 69.071.283.817 đồng. A trả công cho T2 tiền giúp sức việc mua bán hóa đơn là 90.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số hóa đơn Nguyễn Văn A đã mua, bán khống là 1.900 số hóa đơn và hưởng lợi bất chính số tiền là 3.304.901.563 đồng.

3. Trần Thị T2 là người đứng tên giám đốc công ty S3, đồng thời có nhiệm vụ là kế toán nội bộ của 12 công ty (05 công ty do Trần Văn T1 thành lập và 07 công ty do Nguyễn Văn A thành lập). Thìn biết T1 và A thực hiện hành vi mua, bán khống hóa đơn GTGT (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo) nhưng vẫn đồng ý giúp sức cho T1 và A xuất bán khống tổng số 1.998 số hóa đơn của 12 công ty (trong đó giúp T1 bán khống 1.108 số hóa đơn GTGT của 05 công ty; giúp A bán khống 890 tờ hóa đơn GTGT của 07 công ty), hưởng lợi 180.000.000 đồng.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép hóa đơn là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, có đủ căn cứ để xét xử các bị cáo Nguyễn Văn A, Trần Văn T1, Trần Thị T2 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là phù hợp, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về tài chính, kinh tế, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các bị cáo đã mua bán số lượng rất lớn hóa đơn GTGT khống, thu lợi bất chính với số tiền lớn, ngoài ra hành vi của các bị cáo còn tiếp tay cho các công ty làm ăn phi pháp, gây thiệt hại cho Ngân sách của Nhà nước. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Xét tính chất vụ án, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo, HĐXX nhận thấy:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc thống nhất từ trước mà các bị cáo A, T1 đều mở công ty và hoạt động mua bán trái phép hóa đơn riêng nên có vai trò cao nhất, còn bị cáo T2 với vai trò là người giúp sức cho các bị cáo A, T1 để hưởng lợi nên có vai trò thấp hơn. Do vậy, cần căn cứ vào vai trò và số lượng hóa đơn các bị cáo đã mua bán trái phép và số tiền thu lợi bất chính để có hình phạt tương xứng.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện ra đầu thú và nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Luật sư bào chữa cho bị cáo A đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là không phù hợp như Viện kiểm sát đã đối đáp.

HĐXX xét thấy, đối với bị cáo Nguyễn Văn A có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính của mình, bị cáo phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, có ý thức sửa chữa sai lầm, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, không cần phải cách ly bị cáo A ra khỏi đời sống xã hội, mà cần mở lượng khoan hồng cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.

Đối với bị cáo T1 và bị cáo T2 đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính của mình, T2 chỉ có vai trò giúp sức trong vụ án. Hơn nữa, các bị cáo phạm tội thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, đều có ý thức sửa chữa sai lầm và tự nguyện nộp trước một khoản tiền thể hiện các bị cáo T1 và bị cáo T2 có khả năng thi hành hình phạt tiền, do đó cần áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo T1, T2 theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự cũng đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo T1 vag bị cáo T2 là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội nhằm thu lợi bất chính nên cần phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đối với 2 bị cáo còn lại do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T1 và T2.

[4]. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

* Về xử lý vật chứng: Tạm giữ số tiền 1.645.750.000 đồng để đảm bảo thi hành án và tịch thu tiêu hủy 10 con dấu và 16 chiếc USB Token các loại.

* Về áp dụng biện pháp tư pháp: Cần buộc các bị cáo phải nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước, cụ thể:

Bị cáo Nguyễn Văn A phải nộp: 3.394.901.563 đồng – 90.000.000 đồng (trả lương cho T2) = 3.304.901.563 đồng; bị cáo Trần Văn T1 phải nộp 680.847.329 đồng – 90.000.000 đồng (trả lương cho T2) = 590.847.329 đồng; và bị cáo Trần Thị T2 phải nộp 180.000.000 đồng.

Xác nhận bị cáo A đã nộp 3.304.902.000 đồng; bị cáo T2 đã nộp 180.000.000 đồng; bị cáo T1 đã nộp 680.848.000 đồng, do vậy trả lại bị cáo T1 90.000.671 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5]. Về vấn đề liên quan khác:

  • Đối với 08 cá nhân được T1, A nhờ đứng tên Giám đốc công ty (gồm Trần Văn T8, Trần Văn T7, Trần Thị T6, Trần Khắc C1, Trần Đức Q1, Trần Văn C, Lưu Thị L2, Đỗ Văn T5) và Trần Thị N (là vợ của T1) không tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành công ty, không biết việc T1, A mua, bán trái phép hoá đơn GTGT nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
  • Đối với các nhân viên của T1 và A: Chị Lê Hồng H và Ngô Thị Kim H1 là kế toán thời vụ chỉ làm việc kê khai, báo cáo thuế theo các hoá đơn mà T1 và An chuyển lại, không tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty, không biết các hoá đơn T1 và A chuyển được mua, bán khống. Vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý chị H, chị H1 là phù hợp.
  • Đối với những người mua hóa đơn khống của T1, A, do các bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cũng chưa có căn cứ để làm rõ việc mua bán hóa đơn GTGT khống, nên Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi đến Cơ quan Thuế theo địa chỉ đăng ký kinh doanh của các Công ty mua hóa đơn GTGT của T1, A để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Đối với người phụ nữ tên D1 bán 17 công ty cho A, đồng thời giúp A lập hóa đơn, chứng từ xuất khống hoá đơn của 17 công ty do A mua lại cho 07 công ty do A thành lập, do A không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của D1 nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ điều tra, xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.
  • Đối với 17 công ty An mua của D1 để mua bán hóa đơn khống, đến nay xác minh các công ty này đã dừng hoạt động hoặc không hoạt động tại trụ sở đăng ký kinh doanh và cá nhân đứng tên đại diện pháp luật khai không mở công ty D4 không có cơ sở để xử lý đối với các công ty này.
  • Đối với Trần Thị T9, Trần Thị T10, Trần Thị H2 là những cá nhân đã bán khống hoá đơn cho T1; Trần Thị T10 mua khống hóa đơn của A: Hành vi của T9, T10, H2 đã bị cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Ninh khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án hình sự khác nên không xem xét trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A, Trần Văn T1, Trần Thị T2 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.

Áp dụng điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo A 40 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Văn A cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Trần Văn T1 400 triệu đồng sung ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo T1 đã nộp 400 triệu đồng theo biên lai thu tiền số 0002126 ngày 20/5/2025 và số 0002128 ngày 21/5/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

- Trần Thị T2 350 triệu đồng sung ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo T2 đã nộp 300 triệu đồng theo biên lai thu tiền số 0002125 ngày 20/5/2025 và số 0002127 ngày 21/5/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

2. Về vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 10 con dấu và 16 chiếc USB Token các loại:

  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hộp giấy ghi chữ Mạnh Quân.
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Đức Thắng.
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Ngọc V.
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Khương D2.
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Võ Thảo .
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Lê Nhiệm .1
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Huy P.
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Ngọc S.
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Trung Ngọc.
  • 01 USB Token, màu đỏ đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Minh Q4.
  • 01 USB Token, màu đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Hoa Sen.
  • 01 USB Token, màu đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ TH thép Bùi Phát .2
  • 01 USB Token, màu đen, đựng trong hợp giấy ghi chữ Công ty S11.
  • 01 USB Token màu trắng đen, đựng trong hộp giấy ghi chữ Hoàng Việt HD.
  • 01 USB Token màu trắng đen, đựng trong hộp giấy ghi chữ Đức Đ.
  • 01 USB Token màu đen, đựng trong hộp giấy ghi chữ TMH.
  • 01 dấu tròn mang tên Công ty TNHH S1.
  • 01 dấu tròn mang tên Công ty TNHH K5 BN.
  • 01 dấu tròn mang tên Công ty TNHH K6.
  • 01 dấu tròn mang tên Công ty TNHH S6.
  • 01 dấu tròn mang tên Công ty TNHH S9.
  • 01 dấu tròn mang tên Công ty TNHH S8.
  • 01 dấu tròn mang tên Công ty TNHH S7.
  • 03 dấu chức danh giám đốc mang tên: Trần Văn C; Đỗ Văn T5 và Lưu Thị L2.

(Các tài sản, vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 98/2025 ngày 03/4/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.)

- Tịch thu toàn bộ số tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước, cụ thể: Nguyễn Văn A phải nộp 3.304.901.563 đồng; Trần Văn T1 phải nộp 590.847.329 đồng; Trần Thị T2 phải nộp 180.000.000 đồng.

Xác nhận bị cáo A đã nộp 784.902.000 đồng trong quá trình điều tra và 2.520.000.000 đồng trước khi xét xử theo biên lai thu tiền số 0002142 ngày 27/5/2025 và số 0002143 ngày 28/5/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; bị cáo T1 đã nộp 680.848.000 đồng; bị cáo T2 đã nộp 180.000.000 đồng trong quá trình điều tra; trả lại bị cáo Trần Văn T1 90.000.671 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.645.750.000 đồng theo Biên lai thu tiền của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh số 0001742 ngày 14/4/2025 để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Văn A, Trần Văn T1, Trần Thị T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuyến - Đinh Minh Hải

Nguyễn Hữu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép hóa đơn (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 78/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn A và đồng phạm phạm tội mua bán trái phép hóa đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger