TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2025/HS-ST
Ngày: 27-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Võ Văn Dương
- 2/ Ông Thái Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Bảo – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 và và Quyết định hoãn phiên toà số 54/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1977 tại Bình Thuận; nơi thường trú: Tổ E, Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Không có nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Đỗ Thị M; có vợ tên Nguyễn Ngọc P và 01 sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Năm 1997, Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 300/HSST ngày 20/11/1997, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/5/1998.
- Năm 1998, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 255/HSST ngày 24/12/1998, chấp hành xong hình phạt tù tháng 3/1999.
- Năm 1999, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 57/HSPT ngày 17/12/1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2000.
- Năm 2004, Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 80/2004/HSST ngày 16/12/2004, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/9/2005.
- Năm 2012, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 44/2012/HSST ngày 18/5/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2012.
- Năm 2017, Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 133/2017/HSST ngày 28/6/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2018.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2024 (có mặt)
- Bị hại: Ông Đặng Văn Đ, sinh năm: 1994; địa chỉ: F Đ, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Ngọc P, sinh năm: 1988; địa chỉ: 32/3/1 H, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc P hành nghề xe ôm tự phát thường dừng xe gắn máy hiệu Dream màu xanh, biển số 60C2-974.46 đón khách tại Bệnh viện A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 16/10/2024, P điều khiển xe gắn máy chở khách từ quận G đến xã T, huyện C với tiền công 110.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, P điều khiển xe gắn máy lưu thông trên đường Đ để về lại quận G. Khi đến trước nhà số F đường Đ, ấp B, xã T, huyện C, P thấy cổng lưới rào B40 chỉ khép hờ nên nảy sinh ý định vào trong nhà để trộm cắp tài sản. P dừng xe lại, đẩy cổng lưới rào B40 đi vào trong dùng hai tay đẩy cửa nhà đang khép hờ. P vào phòng khách lén lút chiếm đoạt 01 loa Karaoke xách tay B79 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 màu tím (để trên loa) của anh Đặng Văn Đ. P cất giấu điện thoại di động vào túi quần bên phải đang mặc và xách loa trên tay phải mang ra để trên ba ga của xe Dream màu xanh, biển số 60C2-974.46 rồi tẩu thoát. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, P đến khu vực tỉnh Bình Dương bán loa và điện thoại trộm được cho người đi đường không rõ lai lịch được số tiền 1.600.000 đồng. Ngày 18/10/2024, anh Đặng Văn Đ đến Công an xã T, huyện C trình báo. Qua điều tra, P thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên.
Kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 loa Karaoke xách tay B79, trị giá 600.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 màu tím, trị giá 2.200.000 đồng. Tổng cộng 2.800.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe gắn máy hiệu Dream màu xanh, biển số 60C2-974.46, số máy: VZS152FMH538920, số khung: RL1DCH4L1AA538920;
- 02 áo khoác dài tay màu xanh có chữ G;
- 01 nón bảo hiểm màu đen;
- 01 nón bảo hiểm màu nâu có lỗ thoát khí phía trên;
- 01 điện thoại di động hiệu Reami Note 9S màu xanh 64GB, Imei 1: 866689044570185, Imei 2: 866689044900184;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu vàng 128GB, Imei 1: 869945067551297, Imei 2: 869945067551289;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen;
- 01 bóp da;
- Tiền 1.350.000 đồng;
- 01 đôi giày thể thao màu trắng có chữ Asia.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm
Bà Nguyễn Ngọc P là vợ của bị cáo đã bồi thường cho bị hại 4.000.000 đồng, bà không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.
Bị hại Đặng Văn Đ có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt bị hại. Ông đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông đã được bị cáo và gia đình bồi thường số tiền 4.000.000 đồng không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 74/CT-VKS.CC ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đồng ý với Bản kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định. Đối với số tiền 1.350.000 đồng, đây là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp được mà có, đề nghị tịch thu sung công quỹ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền 4.000.000 đồng từ gia đình bị cáo và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét giải quyết.
* Bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 16/10/2024 tại nhà số F đường Đ, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Đặng Văn Đ 01 loa Karaoke xách tay B79 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 màu tím. Theo Kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 loa Karaoke xách tay B79, trị giá 600.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 màu tím, trị giá 2.200.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.800.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ việc bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì cần tiền tiêu xài nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, 06 lần bị Toà án xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong và xóa án tích. Lần phạm tội này chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, bất chấp sự trừng trị của pháp luật vẫn ngang nhiên thực hiện hành vi phạm tội.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo đã nhờ vợ là bà Nguyễn Ngọc P bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng. Bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 áo khoác dài tay màu xanh có chữ G, 01 nón bảo hiểm màu nâu có lỗ thoát khí phía trên: Đây là quần áo, vật dụng bị cáo dùng khi thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 bóp da: Đây là tài sản cá nhân của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 1.350.000 đồng, đây là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp được mà có. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung công quỹ.
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Dream màu xanh, biển số 60C2-974.46, số máy: VZS152FMH538920, số khung: RL1DCH4L1AA538920. Qua xác minh, chiếc xe trên đứng tên ông Trần Văn B. Ông B khai nhận ông B đã bán chiếc xe trên cho một người tên T (không rõ lai lịch) với giá 6.800.000đồng, lúc mua bán không làm hợp đồng, không thực hiện thủ tục sang tên, ông B không có ý kiến gì với chiếc xe trên. Bị cáo mua xe của cửa hàng X. Xét thấy đây là chiếc xe bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ.
- Đối với 01 áo khoác dài tay màu xanh có chữ G, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi giày thể thao màu trắng có chữ Asia, 01 điện thoại di động hiệu Reami Note 9S màu xanh 64GB, Imei 1: 866689044570185, Imei 2: 866689044900184; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu vàng 128GB, Imei 1: 869945067551297, Imei 2: 869945067551289; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tách khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đặng Văn Đ đã nhận 4.000.000 đồng tiền bồi thường từ gia đình bị cáo, ông Đ không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Đối với người thanh niên đã mua lại chiếc loa và điện thoại từ bị cáo P, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 15 (mười lăm ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu xanh có chữ G đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu nâu có lỗ thoát khí phía trên; 01 bóp da đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ số tiền 1.350.000 (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn) đồng;
- + 01 xe gắn máy hiệu Dream màu xanh biển số 60C2-974.46, số máy: VZS152FMH538920, số khung: RL1DCH4L1AA538920, xe không bửng;
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 155/LNK-ĐCSHS, số 156/LNK-ĐCSHS ngày 15/01/2025; Phiếu nhập kho vật chứng số 54/PNK ngày 20/01/2025 và Phiếu thu số 03 ngày 20/01/2025) (bút lục 145 đến 148)
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 78/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 16/10/2024 tại nhà số 69 đường Đào Thị Kiểm, ấp Bến Đò 2, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Đặng Văn Đoàn 01 loa Karaoke xách tay B79 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 màu tím