|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2025/HS-ST Ngày: 26/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Vũ Thị Dinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký TAND huyện Thái Thụy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với:
* Bị cáo Lê Đức T; sinh ngày 06/10/1976; nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; căn cước công dân số: 03407603302. Con ông Lê Quý H và bà Phạm Thị N (đều đã chết). Vợ Phan Thị H1, có 2 con.
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 07/7/2022, Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy ra Quyết định số 07/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, đến ngày 01/02/2024 chấp hành xong.
Nhân thân:
- + Năm 1995 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Đ - Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên). Quá trình tham gia nghĩa vụ quân sự vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân trả về địa phương tháng 11/1996.
- + Ngày 10/4/2012, Ủy ban nhân dân huyện T ra quyết định số 2443/QĐ-UB đối với T trong thời hạn 12 tháng về việc đưa người nghiện ma túy vào trung tâm 05-06 tỉnh T, đến ngày 13/11/2012 do T bị đau ruột thừa nên trung tâm đã bàn giao T lại cho gia đình để điều trị, sau khi điều trị khỏi T không quay trở lại trung tâm tiếp tục chấp hành cai nghiện bắt buộc theo quy định (sau đó Trung tâm cũng không có quyết định yêu cầu T phải tiếp tục chấp hành thời gian còn lại).
- + Ngày 23/12/2013, UBND tỉnh T ra Quyết định số 2919/QĐ-UBND quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục đối với T, trong thời hạn 24 tháng, đến ngày 24/11/2015 T chấp hành xong trở về địa phương.
- + Bản án 07/2018/HSST ngày 07/02/2018, Toà án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt T 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 22/4/2019 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 23/3/2018 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, đã được xóa án tích.
- + Ngày 02/8/2022, Ủy ban nhân dân xã D xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; đã nộp phạt ngày 08/9/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/02/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thái T. Trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: - Ông Vũ Đức D, sinh năm 1975 ; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Bà Đoàn Thị N1, sinh năm 1970 ; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Ông Bùi Viết R, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 20/02/2025, Lê Đức T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B6 - 176.88 đi từ nhà ở thôn A, xã T đến xã T mục đích tìm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà anh Vũ Đức D, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã T, huyện T, T quan sát trong nhà anh D không có ai nên T để xe ngoài cổng rồi đi vào trong phòng ngủ của vợ chồng anh D, T nhìn thấy ở đầu giường có 02 chiếc điện thoại di động, gồm 01 thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, vỏ màu vàng đã qua sử dụng trị giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus, vỏ màu xám đã qua sử dụng trị giá 1.667.000 đồng (một triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng), T lấy 02 chiếc điện thoại di động trên bỏ vào túi quần đang mặc rồi ra ngoài lấy xe tiếp tục điều khiển đi tìm nhà nào có sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày khi đi qua nhà bà Đoàn Thị N1, sinh năm 1970, trú tại thôn C, xã T, T quan sát không có ai ở trong nhà nên T để xe ngoài đường rồi đi bộ vào trong nhà. T quan sát thấy ở trên ghế gỗ phòng ngủ của vợ chồng con trai bà N1 có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12 vỏ màu hồng xanh, đang cắm sạc, trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). T lấy chiếc điện thoại trên rồi điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại Vinh Sơn M của anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1999, có địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện T. T vào cửa hàng gặp V và bảo: “anh có cái điện thoại cũ muốn bán”, T lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12, vỏ màu hồng xanh trong túi quần đưa cho V. V xem và trả 900.000 đồng, T đồng ý bán. Sau khi nhận tiền từ V, T bảo V “anh có cái điện thoại Iphone cũ của ông anh cho không nhớ mật khẩu em có mua không”, V bảo “anh cứ cầm đến đây em xem thế nào”. T giả vờ đi về nhà, đi khoảng 500m, rồi lại quay lại quán, đưa cho V chiếc điện thoại di động Iphone Xs max, vỏ màu vàng. V kiểm tra và trả cho T 800.000 đồng. Còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus vỏ màu xám, do không cài mật khẩu nên T để sử dụng. Sau khi phát hiện mất điện thoại, đến ngày 24/02/2025, anh D, bà N1 có đơn trình báo đến Công an xã T.
Bản cáo trạng số 81/CT-VKSTT ngày 07/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Lê Đức T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Các vấn đề khác: Anh Nguyễn Hữu V khi mua 02 chiếc điện thoại di động của T, T không nói cho anh V biết và anh V cũng không biết đó là tài sản do T trộm cắp được mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với anh V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (do gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Hữu V 1.700.000 đồng); điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội "Trộm cắp tài sản", xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B6-17688 cùng đăng ký xe cho chị Phan Thị H1 (vợ bị cáo T); trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21-Y. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận đối với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo, lời khai của bị hại anh Vũ Đức D và bà Đoàn Thị N1; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Công an xã T lập ngày 24/02/2025; Bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 26/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T; Biên bản ghi lời khai của người liên quan anh Nguyễn Hữu V; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng ông Bùi Viết R; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, khoảng 06 giờ 30 phút ngày 20/02/2025, Lê Đức T có hành vi trộm cắp của anh Vũ Đức D 01 thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max vỏ màu vàng trị giá 6.000.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus vỏ màu xám trị giá 1.667.000 đồng. Khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, Lê Đức T có hành vi trộm cắp của bà Đoàn Thị N1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12 vỏ màu hồng xanh trị giá 2.500.000 đồng. Tổng trị giá 03 chiếc điện thoại trên là 10.167.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
......”
[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Hữu V 1.700.000 đồng. Xét thấy, đây là quan hệ hoàn toàn khác, theo hướng dẫn tại Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự theo tinh thần tại mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn “tình tiết khác” là: “gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo” (trường hợp này phải là bồi thường thiệt hại cho bị hại). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Đức T.
[5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã trả cho anh Nguyễn Hữu V số tiền 1.700.000 đồng, anh V đã nhận đủ, không yêu cầu bồi thường thêm. Bị hại ông Vũ Đức D, bà Đoàn Thị N1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Do đó, phần trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
[7] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra quản lý của bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B6-17688 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21-Y vỏ màu đen đã qua sử dụng. Chiếc xe mô tô bị cáo dùng để trộm cắp tài sản là của vợ bị cáo, khi đi trộm cắp vợ bị cáo không biết; chiếc điện thoại di động là của bị cáo, không dùng để phạm tội. Do đó, cần trả lại chiếc xe mô tô cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị Phan Thị H1 (vợ bị cáo); trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21-Y.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/02/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại chị Phan Thị H1 (vợ bị cáo Lê Đức T): 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B6-17688 và Giấy chứng nhận đăng ký xe.
- - Trả lại bị cáo Lê Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21-Y vỏ màu đen đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thuỵ.)
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Lê Đức T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Vũ Đức D, bà Đoàn Thị N1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hữu V vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Huệ |
Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 78/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
