Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 78/2025/HS-ST

Ngày 24 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thiện Lợi.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với:

* Bị cáo: Đào Quốc Đ, sinh ngày 11/02/1993 tại Thái Bình.

Nơi cư trú: Số nhà C, đường P, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Đào Quốc C và bà Phạm Thị H; có vợ là Trịnh Thị Y và có 03 con; Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 75/2011/HS-ST ngày 25/5/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2012; đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, tiền sung quỹ nhà nước ngày 18/8/2011; đã bồi thường dân sự ngày 26/8/2011;

- Bản án số 160/2013/HS-ST ngày 17/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2015, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/11/2013 và án phí dân sự sơ thẩm ngày 24/9/2015, đã bồi thường dân sự năm 2013.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 04/01/2025 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T - Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hà Đức Q, sinh ngày 05 tháng 12 năm 2007; Người đại diện hợp pháp của anh Hà Đức Q: Ông Hà Đức Q1, sinh năm 1978 và bà Vũ Thị H1, sinh năm 1980; Đều trú tại: Thôn N, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (đều vắng mặt)

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Du H2, sinh ngày 26/8/2008; Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn D H2: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1977; Đều trú tại: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình. (đều vắng mặt)

* Người chứng kiến:

- Ông Phạm Hữu T1, sinh năm 1948; Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

- Ông Phạm Hồng Q2, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Số nhà D, đường T, tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

- Ông Phạm Hữu H3, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: Tổ H, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 25/12/2024, Đào Quốc Đ đi xe khách từ khu vực ngã tư K giao với đường T đến khu vực cầu T thuộc địa phận tỉnh Nam Định gặp và mua được của một người nam giới nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ cỏ T có chứa chất ma túy với giá 50.000.000 đồng, người nam giới nhận tiền và đưa cho Đ thùng catong, Đ mở ra kiểm tra bên trong có 09 túi nilon trong suốt đều có kích thước khoảng 15x20cm, bên trong đều chứa các sợi thực vật màu nâu vàng và 01 hộp nhựa bên trong có 18 điếu dạng điếu thuốc lá màu trắng. Đ hỏi người đàn ông: "Có dụng cụ để chia và đóng gói không?" người nam giới này nói: "Có". Sau đó người nam giới đưa cho Đ 01 túi nilon màu đen bên trong có nhiều túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, 01 cân điện tử, 01 máy ép nhiệt, 02 máy cuốn thuốc lá, 01 bình xịt và đưa cho Đ 01 ống nhựa bên trong có dung dịch màu xanh đồng thời nói với Đ: "Nếu nhẹ thì xịt thêm vào Tobaco". Đ nhận lấy và cất vào trong túi áo khoác của Đ rồi bê thùng catong có chứa cỏ Tobaco bắt taxi đi về nhà. Khi về đến nhà, thấy không có ai ở nhà nên Đ đã lên gian phòng thờ tầng ba mục đích để chia thành các túi nhỏ để bán kiếm lời. Đ mở thùng catong lấy ra 09 túi nilon trong suốt chứa cỏ Tobaco chia ra cho vào 239 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, 18 túi nilon trong suốt và cho vào 18 điếu dạng thuốc lá màu trắng. Sau khi chia cỏ Tobaco xong, Đ lấy 65 túi trong suốt có mép cài viền màu đỏ bên trong có cỏ Tobaco cất vào trong túi đeo chéo màu đen để đi bán kiếm lời; để ở phòng ngủ tầng 2 nhà của Đ 02 gói trên nền nhà; để ở phòng thờ tầng 3 nhà của Đ 18 túi nilon trong hộp bìa catong trên giường, 18 điếu thuốc trong hộp nhựa trên giường, 172 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ trên nền nhà và 01 ống nhựa bên trong có dung dịch màu xanh trên bàn. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Đ mang theo túi đeo chéo bên trong có 65 túi cỏ T2 đi bộ ra khu vực đường N thuộc địa phận tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình tìm người mua ma túy Tobaco để bán. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi Đ đang đứng ở ven đường thì Hà Đức Q đi cùng Nguyễn Du H2 đến hỏi mua 400.000 đồng tiền cỏ Tobaco của Đ, Đ đồng ý bán ma túy cho Q, Q đưa cho Đ 400.000 đồng gồm 04 tờ tiền 100.000 đồng, Đ nhận tiền và cầm ở lòng bàn tay trái của Đ đồng thời lấy từ túi đeo chéo của Đ 04 túi cỏ T2 đưa cho Q, Q đang cất vào túi áo bên trái của Q đang mặc thì bị tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện.

Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Phạm Hồng Q2 và ông Phạm Hữu H3, Q đã tự giác đưa từ túi áo bên trái của Q đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 04 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong gói đều chứa sợi thực vật màu nâu vàng và khai đó là cỏ Tobaco của Q vừa mua của Đ với giá 400.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Đ tự nguyện đưa từ lòng bàn tay trái của Đ giao nộp số tiền 400.000 đồng và lấy từ trong túi đeo chéo của Đ giao nộp cho tổ công tác 61 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ bên trong đều chứa sợi thực vật màu nâu vàng. Đ khai nhận số tiền 400.000 đồng là tiền Đ vừa bán ma túy cho Q mà có và 61 túi nilon bên trong là ma túy Tobaco, Đ mang đi để bán kiếm lời. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ: thu giữ tại nền nhà phòng ngủ tầng 2 của Đ 02 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong gói đều chứa sợi thực vật màu nâu vàng, được niêm phong vật chứng ký hiệu M3; thu giữ tại nền nhà phòng thờ tầng 3 của Đ 172 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong gói đều chứa sợi thực vật màu nâu vàng, được niêm phong vật chứng ký hiệu M4; thu giữ hộp catong để trên giường phòng thờ tầng 3 của Đ 18 túi nilon trong suốt, bên trong các túi đều chứa sợi thực vật màu nâu vàng, được niêm phong vật chứng ký hiệu M5; thu giữ 18 điếu thuốc trong hộp nhựa trên giường tại phòng thờ tầng 3, bên trong đều chứa sợi thực vật màu nâu vàng, được niêm phong vật chứng ký hiệu M7; thu giữ 01 ống nhựa bên trong có dung dịch màu xanh trên bàn phòng thờ tầng 3, được niêm phong vật chứng ký hiệu M6; ngoài ra còn thu giữ 1567 túi trong suốt có mép cài viền màu đỏ; 01 bình xịt nước; 01 chiếc cân loại 5kg màu xanh; 01 chiếc cân loại 5kg màu cam; 01 máy ép nhiệt; 02 máy cuộn thuốc lá.

Tại bản Kết luận giám định số: 10304-1/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của V - Bộ C1 kết luận: Tìm thấy chất ma tuý MDMB-INACA và MDMB-4en-PINACA trong mẫu sợi thực vật màu nâu vàng (ký hiệu M1) gửi giám định; tổng khối lượng mẫu: 10,239gam; Khối lượng MDMB-4en-PINACA có trong 10,239gam mẫu là 0,010gam. Hiện nay, C09 chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA nên không giám định được hàm lượng (nồng nộ) và khối lượng chất ma túy MDMB-INACA có trong các mẫu gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 10304/KL-KTHS ngày 14/02/2025 của V - Bộ C1 kết luận:

  • Tìm thấy chất ma tuý MDMB-INACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA trong mẫu sợi thực vật màu nâu vàng (ký hiệu M2) gửi giám định; tổng khối lượng mẫu: 117,820gam; Khối lượng MDMB-4en-PINACA trung bình có trong 117,820gam mẫu là 0,058gam.
  • Tìm thấy chất ma tuý MDMB-INACA và MDMB-4en-PINACA trong mẫu sợi thực vật màu nâu vàng (ký hiệu M3) gửi giám định; tổng khối lượng mẫu: 235,56gam; Khối lượng MDMB-4en-PINACA trung bình có trong 235,56gam mẫu là 0,424gam.
  • Tìm thấy chất ma tuý MDMB-INACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA trong mẫu sợi thực vật màu nâu vàng (ký hiệu M4) gửi giám định; tổng khối lượng mẫu: 7224,47gam; Khối lượng MDMB-4en-PINACA trung bình có trong 7224,47gam mẫu là 9,391gam.
  • Tìm thấy chất ma tuý MDMB-INACA và MDMB-4en-PINACA trong mẫu sợi thực vật màu nâu vàng (ký hiệu M5) gửi giám định; tổng khối lượng mẫu: 44,87gam; Khối lượng MDMB-4en-PINACA trung bình có trong 44,87gam mẫu là 0,085gam.
  • Tìm thấy chất ma tuý MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA trong mẫu chất lỏng màu xanh (ký hiệu M6) gửi giám định; thể tích mẫu: 7,2mL.
  • Tìm thấy chất ma tuý MDMB-INACA và MDMB-4en-PINACA trong mẫu sợi thực vật màu nâu vàng (ký hiệu M7) gửi giám định; tổng khối lượng mẫu: 18,34gam; Khối lượng M có trong 18,34gam mẫu là 0,018 gam.
  • Hiện nay, C09 chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA nên không giám định được hàm lượng (nồng nộ) và khối lượng chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA có trong các mẫu gửi giám định.

Bản cáo trạng số: 82/CT-VKSTPTB ngày 05/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đào Quốc Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Quốc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Quốc Đ mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo Đào Quốc Đ từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng. Đề nghị giải quyết về xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo Đào Quốc Đ đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố nhưng có ý kiến mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là quá cao, bị cáo có 03 con nhỏ, là lao động chính nên đề nghị giảm hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Kiểm sát viên đối đáp: Căn cứ vào khối lượng chất ma tuý, nhân thân của bị cáo Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt như trên là phù hợp.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo có 03 con nhỏ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến; người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập ngày 25/12/2024; biên bản khám xét; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập ngày 25/12/2024; kết luận giám định; và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ ngày 25/12/2024, tại khu vực đường N, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Đào Quốc Đ có hành vi bán trái phép 10,239 gam sợi thực vật màu nâu vàng có chứa ma túy loại MDMB-4en-PINACA có khối lượng 0,010 gam cho Hà Đức Q với giá 400.000 đồng. Ngoài ra, Đào Quốc Đ còn tàng trữ trái phép trên người và tại chỗ ở 7641,06 gam sợi thực vật màu nâu vàng có chứa ma túy, loại MDMB-4en-PINACA có tổng khối lượng 9,976 gam và 7,2mL chất lỏng màu xanh chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA và MDMB-BUTINACA mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Đào Quốc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo Đào Quốc Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị Toà án kết án về tội Cướp giật tài sản. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích hưởng lợi cho bản thân nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của Hà Đức Q do bị cáo Đ bán cho Q và số ma tuý thu giữ tại nơi ở của bị cáo Đ còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 1567 túi trong suốt có mép cài viền màu đỏ; 01 bình xịt nước; 01 chiếc cân loại 5kg màu xanh; 01 chiếc cân loại 5kg màu cam; 01 máy ép nhiệt; 02 máy cuộn thuốc lá và 01 túi đeo chéo là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Đào Quốc Đ khai mua ma túy của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực cầu T thuộc địa phận tỉnh Nam Định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không có căn cứ để xử lý.

[8] Đối với Hà Đức Q có hành vi mua 04 gói cỏ Tobaco của Đào Quốc Đ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nhưng do lượng ma túy chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân Hà Đức Q chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về các tội liên quan đến ma túy. Ngày 07/01/2025, Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Đức Q bằng hình thức phạt tiền là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[9]. Đối với Nguyễn Du H2 là người đi cùng Hà Đức Q, H2 không biết việc Q mua ma túy để sử dụng cho bản thân nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Đối với các chất ma MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA tìm thấy trong sợi thực vật màu nâu vàng và chất lỏng màu xanh. Tuy nhiên, V - Bộ C1 chưa có mẫu chuẩn định lượng các chất ma túy này nên không giám định được hàm lượng (nồng nộ) và khối lượng chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA có trong các mẫu gửi giám định.

[11]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Quốc Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Đào Quốc Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ (ngày 26/12/2024).

- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Đào Quốc Đ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ hoàn lại sau giám định trong phong bì bên ngoài ghi số 10304-1/KL-KTHS của V - Bộ C1; số ma túy thu giữ hoàn lại sau giám định trong thùng catong được niêm phong bằng các dải niêm phong chữ ký, chữ viết của Đinh Thị T3, Bùi Hồng H4 của V - Bộ C1; 1567 túi trong suốt có mép cài viền màu đỏ; 01 bình xịt nước; 01 chiếc cân loại 5 kg màu xanh; 01 chiếc cân 5 kg màu cam; 01 máy ép nhiệt; 02 máy cuộn thuốc lá; 01 túi đeo chéo màu đen đều đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng đã thu của bị cáo.

(Các vật chứng, tài sản trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/6/2025).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đào Quốc Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Đào Quốc Đ có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/6/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - VKSND TP. Thái Bình và tỉnh Thái Bình;
  • - CQ CSĐT, THAHS Công an tỉnh Thái Bình
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 78/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 20 giờ ngày 25/12/2024, tại khu vực đường N, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Đào Quốc Đ có hành vi bán trái phép 10,239 gam sợi thực vật màu nâu vàng có chứa ma túy loại MDMB-4en-PINACA có khối lượng 0,010 gam cho Hà Đức Q với giá 400.000 đồng. Ngoài ra, Đào Quốc Đ còn tàng trữ trái phép trên người và tại chỗ ở 7641,06 gam sợi thực vật màu nâu vàng có chứa ma túy, loại MDMB-4en-PINACA có tổng khối lượng 9,976 gam và 7,2mL chất lỏng màu xanh chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA và MDMB-BUTINACA mục đích để bán kiếm lời.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger