Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HS-ST

Ngày: 24/6/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Trường;

Bà Ngô Thị Luân.

Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST–HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Quàng Nhật Phi D, sinh năm 1998, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn S, con bà Nguyễn Thị Minh N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực L thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Nhật Q, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Long Thanh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 54 phút ngày 19/12/2024, khi Quàng Nhật Phi D đang ở nhà tại thôn L, xã P, huyện L thì gọi điện thoại tới số 0849.692.xxx của người tên Q (tên thường gọi là Q1) để hỏi mua ma túy với số tiền 1.500.000 đồng thì người này đồng ý. Đến 17 giờ 50 phút cùng ngày, Q gọi điện thoại cho D và hẹn giao ma túy tại đoạn đường bê tông thuộc thôn C, xã P, huyện L. Sau đó, D một mình đi bộ đến điểm hẹn thì gặp Q đang đứng chờ ở đây. Khi gặp Q, D đưa số tiền 1.500.000 đồng thì được Q đưa cho một gói nylon chứa ma túy “đá”. Dương cầm gói nylon chứa ma túy và nói mua thêm 300.000 đồng và đưa gói ma tuý lại cho Q. Q đồng ý và cầm lại gói ma túy rồi đi đâu không rõ. Khi Q rời đi, D chuyển số tiền 300.000 đồng từ tài khoản Momo của mình đến tài khoản Momo số 0369399699 mang tên “Nguyễn Nhật Q” của Q. Khoảng 30 phút sau, Q quay lại và đưa cho D một gói nylon dạng túi zip bên trong chứa ma túy. D cất giấu ma túy vào trong túi quần rồi đi về nhà của mình. Khi về đến nhà, D đi vào phòng ngủ, ngồi trên giường lấy gói nylon chứa ma túy vừa mua được ra phân chia vào 10 gói nylon nhỏ. Sau khi phân chia ma túy vào 10 gói nylon nhỏ thì còn dư một ít nên D đổ hết ma túy dư vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy và một mình sử dụng hết ma túy trong cóng thủy tinh. Trong khi sử dụng ma tuý thì cóng thuỷ tinh bị hư nên D gom bộ dụng cụ, vỏ gói nylon đựng ma tuý trước đó và đoạn ống hút nhựa dùng để xúc ma tuý cho vào bịch nylon. Tiếp đó, khi ra ngoài mua nước và thuốc lá D mang theo 10 gói ma túy cho vào trong một hộp bằng kim loại, màu xanh rồi cất giấu ở gốc cây ngoài sân nhà ở của mình, đồng thời D mang bịch nylon bên trong có bộ dụng cụ, gói nylon, đoạn ống hút nhựa đem vứt bỏ xuống suối ở gần nhà.

Đến 08 giờ 41 phút ngày 20/12/2024, D dùng tài khoản Messenger tên “Duong Phi” của mình nhắn tin tới tài khoản tên “Thuan Long” của Long Thanh T, sinh năm: 1982 ngụ tại thôn L, xã P, huyện L với nội dung “có ai lấy hú nhá anh”, “kiếm tiền chơi game” (nghĩa là D bán ma tuý có ai hỏi mua thì giới thiệu cho D đến bán kiếm tiền chơi game). Sau khi D nhắn tin với nội dung như trên thì T biết D có ma tuý để bán và nhận lời với D nhưng T không rõ số lượng là bao nhiêu và D cất giấu ma tuý ở đâu. Sau đó, T nhắn tin để hỏi xin D thuốc lá để hút với nội dung "May cho a may dieu thuoc voi” thì D trả lời “ở nhà tí em ra”. Một lúc sau, D đi bộ đến nhà T đồng thời mang theo hộp kim loại chứa 10 gói ma túy nhằm mục đích khi có ai hỏi mua sẽ bán. Khi đi đến khu vực nhà T, D không đi vào từ cổng chính mà leo qua hàng rào lưới sắt B40 ở sau vườn rồi thông qua cửa phụ phía sau đi lên gác lửng sau nhà ở của T (D đến nhưng T không biết). Lúc này, T đang ngồi ở phòng khách thì có lực lượng Công an đến làm việc, khi nghe tiếng động ở phía sau nhà thì T cùng lực lượng Công an đi kiểm tra thì thấy D đang trên gác lửng, D thấy lực lượng Công an nên đã ném hộp kim loại chứa 10 gói ma túy qua ô thông gió thì bị phát hiện. Sau đó, lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật.

Căn cứ lời khai của D và qua xác minh xác định đối tượng bán ma tuý cho D tên Q (tên thường gọi là Q1) có tên là Nguyễn Nhật Q, sinh năm 1992, cư trú tại thôn P, xã P, huyện L. Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Q và triệu tập Q lên trụ sở làm việc. Kết quả khám xét lực lượng công an phát hiện thu giữ một khẩu súng có ghi số “980000V VOL”, “MAD IN USD” và 02 cây thực vật tươi nghi là cây Cần sa, ngoài ra không phát hiện đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma tuý với D. Qua làm việc và đối chất, Q không thừa nhận hành vi có bán ma túy cho D, số tiền 300.000 đồng mà D chuyển cho Q, Q khai nhận là do D trả nợ.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm:

  • - Một hộp kim loại màu xanh bên trong có 10 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy được niêm phong.
  • - Một điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Realme C3, màu xanh, đã qua sử dụng được niêm phong.
  • -02 cây thực vật tươi nghi là cần sa được niêm phong. Một vật có hình dạng của súng trên thân có ghi số và chữ “980000V VOL”, “MAD IN USD” được niêm phong trong bìa carton.

Tại bản Kết luận giám định số 1428/KL-KTHS ngày 27/12/2024, Phòng K Công an tỉnh L xác định:

  • -Phong bì 01: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong 10 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,0471g (một phẩy không bốn bảy một gam), loại Methamphetamine.
  • -Phong bì 02: Mẫu hai cây thực vật tươi (M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,2775g (hai phẩy hai bảy năm gam), loại Cần sa.

Methaphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Cần sa là chất ma tuý nằm trong Danh mục ID, STT: 1, Nghị định 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản Kết luận giám định số 40/KL-KTHS ngày 11/02/2025, Phòng K Công an tỉnh L xác định: Mẫu gửi đi giám định không phải vũ khí quân dụng, là dùi cui điện thuộc công cụ hỗ trợ.

Về xử lý vật chứng: Đối với dùi cui điện trên thân có ghi số và chữ “980000V VOL”, “MAD IN USD” đã được tịch thu tại Quyết định xử lý hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự số 388/QĐ-XPHC ngày 13/5/2025 của Công an tỉnh L.

Quá trình điều tra bị can Quàng Nhật Phi D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Nhật Q là người bán ma túy cho bị can Quàng Nhật Phi D như lời khai của D. Hiện nay chưa đủ căn cứ xác định về hành vi bán trái phép chất ma túy của Q, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đang tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ xử lý sau.

Đối với hành vi trồng 02 cây cần sa của Nguyễn Nhật Q do chưa đủ yếu tố cấu thành tội trồng cây cần sa quy định tại Điều 247 Bộ luật Hình sự, nên Công an tỉnh L đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 7.500.000 đồng về hành vi trồng cây cần sa theo quyết định số 388/QĐ-XPHC ngày 13/5/2025.

Đối với Long Thanh T mặc dù có hứa hẹn giới thiệu bán ma túy cho bị can D. Tuy nhiên, tại thời điểm hứa hẹn, T chưa thực hiện và cũng không rõ cụ thể số lượng bao nhiêu. T không biết D cất giấu ma tuý ở đâu và không được D hứa hẹn chia lợi ích gì nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố bị cáo Q2 Nhật Phi D ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Quàng Nhật Phi D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Nhật Phi D từ 3 năm đến 4 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • + Một phong bì được niêm phong số 1428/KL-KHHS có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Nguyễn Văn C”, “Bùi Hoài N1”, số “1” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L “bên ngoài dán băng keo trong” đựng bao gói vật chứng gửi giám định, bao gồm:
    • + Một phong bì bưu điện đựng một hộp kim loại chứa 10 vỏ gói nylon.
    • + Một phong bì bưu điện chứa một túi nylon.
  • + Một phong bì được niêm phong số 1428/KL-KHHS có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Nguyễn Văn C”, “Bùi Hoài N1” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L “bên ngoài dán băng keo trong” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: M1: 0,9050g.
  • + Một điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Realme C3, kiểu máy RMX2022 màu xanh, đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Công P, Nguyễn Minh Đ và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng PA05 - Công an tỉnh L.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên là Nguyễn Nhật Q và Long Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của Nguyễn Nhật Q và Long Thanh T không ảnh hưởng đến việc xét xử; đồng thời, không có ai đề nghị hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.

[1.2] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo là người có sử dụng chất ma túy, vào ngày 19/12/2024, bị cáo có mua ma túy của Nguyễn Nhật Q với số tiền là 1.800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo về nhà phân chia ra thành 10 gói nhỏ cất giấu, còn dư một ít thì bị cáo sử dụng. Đến 08 giờ 41 phút ngày 20/12/2024, bị cáo nhắn tin cho Long Thanh T với nội dung nhờ T giới thiệu để bị cáo bán ma túy. Sau đó, bị cáo mang theo 10 gói ma túy đến nhà T nhằm mục đích khi có ai hỏi mua sẽ bán. Khi đến nhà T bị cáo không đi bằng cửa chính mà leo qua hàng rào lưới sắt B40 ở sau vườn rồi thông qua cửa phụ phía sau đi lên gác lửng sau nhà ở của T (bị cáo đến nhưng T không biết). Lúc này, T đang ngồi ở phòng khách thì có lực lượng Công an đến làm việc lo sợ Công an bắt nên bị cáo đã ném hộp kim loại chứa 10 gói ma túy qua ô thông gió thì bị phát hiện. Sau đó, lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật.

[2.1] Tại bản Kết luận giám định số 1428/KL-KTHS ngày 27/12/2024, Phòng K Công an tỉnh L xác định: Phong bì 01: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong 10 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,0471g (một phẩy không bốn bảy một gam) loại Methamphetamine. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thì bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về kết quả giám định.

[2.2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản Cáo trạng truy tố cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Quàng Nhật Phi D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố là có căn cứ.

[2.3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, Bởi vì, ma túy là loại độc dược có nhiều tác hại đối với sức khỏe con người là nguyên nhân gây ra những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và phát sinh theo nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước ta bằng mọi biện pháp tuyên truyền, giáo dục toàn dân phòng chống ma túy và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới mọi hình thức nhưng chỉ vì mục đích vụ lợi bị cáo không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này mà bị cáo đã đi mua về phân chia ra nhiều gói nhỏ để bán kiềm lời nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do bị cáo đã gây ra.

[2.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét thấy, bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình.

[2.6] Từ những phân tích nhận định nêu trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận quan điểm luật tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đối với loại tội phạm này cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật; đồng thời, nhằm răn đe giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và là người nghiện ma túy nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Nhật Q, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận là người đã bán ma túy cho bị cáo với số tiền 1.800.000 đồng, bị cáo đã đưa tiền mặt 1.500.000 đồng và chuyển khoản cho Q 300.000 đồng. Đối với vần đề này thì quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã cho đối chất giữa bị cáo với Q nhưng Q không thừa nhận mà Q chỉ thừa nhận D chuyển khoản cho Q 300.000 đồng là khoản tiền trước đó bị cáo D còn nợ. Do đó, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xác định về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đang tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau là phù hợp. Ngoài ra đối tượng Q còn có hành vi trồng 02 cây cần sa do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm và tàng trữ công cụ hỗ trợ, sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an tỉnh L đã ra quyết định xử phạt hành chính số 388/QĐ-XPHC ngày 15/5/2025. Xử phạt Nguyễn Nhật Q bằng hình thức phạt tiền 7.500.000 đồng về hành vi trồng cây cần sa, 4.000.000 đồng về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ, 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Long Thanh T mặc dù có hứa hẹn giới thiệu bán ma túy cho bị cáo D. Tuy nhiên, tại thời điểm hứa hẹn T chưa thực hiện và cũng không rõ cụ thể số lượng bao nhiêu. T không biết D cất giấu ma tuý ở đâu và không được D hứa hẹn chia lợi ích gì nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự với vai trò đồng phạm. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Long Thanh T là phù hợp. Ngoài ra đối tượng Long Thanh T còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã P, huyện L đã ra quyết định xử phạt hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 27/12/2024. Xử phạt Long Thanh T bằng hình thức phạt tiền với số là 1.500.000đồng là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà gồm: Một phong bì được niêm phong số 1428/KL-KHHS có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Nguyễn Văn C”, “Bùi Hoài N1”, số “1” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L “bên ngoài dán băng keo trong” đựng bao gói vật chứng gửi giám định, bao gồm: Một phong bì bưu điện đựng một hộp kim loại chứa 10 vỏ gói nylon. Một phong bì bưu điện chứa một túi nylon và một phong bì được niêm phong số 1428/KL-KHHS có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Nguyễn Văn C”, “Bùi Hoài N1” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L “bên ngoài dán băng keo trong” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: M1: 0,9050g. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với các phong bì nêu trên đựng chất ma túy pháp luật cấm sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với một điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Realme C3, kiểu máy RMX2022 màu xanh, đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Công P, Nguyễn Minh Đ và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng PA05 - Công an tỉnh L. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là công cụ bị cáo dùng để liên lạc sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên tuyên sung vào công quỹ Nhà nước

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Nhật Phi D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Q2 Nhật Phi D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.

  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    2.1. Tuyên tịch thu tiêu hủy:

    • - Một phong bì được niêm phong số 1428/KL-KHHS có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Nguyễn Văn C”, “Bùi Hoài N1”, số “1” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L “bên ngoài dán băng keo trong” đựng bao gói vật chứng gửi giám định, bao gồm:
      • + Một phong bì bưu điện đựng một hộp kim loại chứa 10 vỏ gói nylon.
      • + Một phong bì bưu điện chứa một túi nylon.
    • - Một phong bì được niêm phong số 1428/KL-KHHS có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Nguyễn Văn C”, “Bùi Hoài N1” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L “bên ngoài dán băng keo trong” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: M1: 0,9050g.

    2.2. T2 tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: Một điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Realme C3, kiểu máy RMX2022 màu xanh, đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Công P, Nguyễn Minh Đ và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng PA05 - Công an tỉnh L.

    (Tất cả có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/6/2025).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Quàng Nhật Phi D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/6/2025) bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo; riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần có liên quan).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng TTr-KT & THA;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Huấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 78/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng nhật Phi Dương - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger