Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:78/2025/HS-ST

Ngày: 17-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lương;
  2. Ông Huỳnh Hồng Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Trần Thanh Bình – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2025/HSST ngày 23/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/QĐXXST-HS ngày 03/6/2025, đối với bị cáo:

LÊ HỒNG L - sinh ngày 18/7/1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Tổ F, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: D đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh khách sạn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Lê Văn N, sinh năm 1955 và bà Lê Thị L1, sinh năm 1955; vợ: Đinh Thị Thanh H, sinh năm 1981 (đã ly hôn); con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; áp dụng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/4/2024 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 9 năm 2018, Lê Hồng L ký hợp đồng với bà Lê Thị Thu T, thuê căn nhà số D đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 110.000.000 đồng/tháng, mục đích cải tạo và kinh doanh khách sạn Q, mô hình lưu trú theo ngày, giờ. Từ cuối tháng 02 năm 2024, do tình hình kinh doanh sụt giảm, L nảy sinh ý định cho gái bán dâm đến thuê phòng bán dâm cho người mua dâm để tăng doanh thu cho khách sạn. L tạo nhóm Z lấy tên “QT”, L là trưởng nhóm sử dụng tài khoản Zalo tên “Quạ đen” và 05 người bán dâm gồm tài khoản “Khách TN”, “Khách ĐT”, “Khách Vision Đỏ”, “Khách Vision Đen” và “Khách Vision Trắng”, để người bán dâm thông báo số phòng đã thuê để thực hiện việc bán dâm cho người mua dâm. Ngoài ra, L sử dụng Phòng 107 tại khách sạn để người bán dâm sử dụng làm phòng chờ bán dâm và phòng thay đồ miễn phí. L không thu lợi từ việc bán dâm, chỉ thu tiền phòng của người mua dâm, giá thuê là 90.000 đồng/tiếng.

Vào trưa ngày 06/4/2024, thông qua thông tin bài đăng bán dâm trên trang web gaito.sh, Trương Hoài B sử dụng thuê bao số 0943813768 nhắn tin đến thuê bao số 0935662875 của Phùng Thị Ngọc H1 để mua dâm, H1 đồng ý và báo địa chỉ khách sạn Q để B thuê phòng. Sau khi đến khách sạn, B gặp Lê Hồng L làm lễ tân, thuê Phòng 105, nhắn tin báo số phòng cho H1. H1 nhắn tin Z cho L nội dung “105”, L hiểu là H1 sẽ đến bán dâm cho người mua dâm tại Phòng 105 của khách sạn nên thả tim tin nhắn của H1. H1 đến Phòng 107 thay đồ, để đồ cá nhân rồi sang Phòng 105 để bán dâm. Tại phòng, H1 thỏa thuận bán dâm cho bảo với giá 400.000 đồng. H1 thực hiện hành vi kích dục dương vật cho B nhưng do không cương cứng nên cả hai chưa quan hệ được, B chưa thanh toán tiền cho H1. Vào khoảng 14 giờ ngày 06/4/2024, khi cả hai đang mặc lại đồ thì Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội phối hợp Công an P2, quận T và Đội Cảnh sát hình sự Công an quận T kiểm tra hành chính khách sạn bắt quả tang, thu giữ bao cao su đã qua sử dụng.

Ngoài ra, tại Phòng 303 của khách sạn phát hiện Bùi Ngọc T1 đã thực hiện hành vi bán dâm cho Đoàn Thái M với giá 1.000.000 đồng. Thông qua thông tin trên trang web gaito.sh, T1 nhận tin nhắn của Minh nhắn đến thuê bao số 0928131362 của T1 hỏi mua dâm, T1 hướng dẫn đến thuê phòng tại khách sạn Q. Sau khi thuê Phòng 303 tại khách sạn, M nhắn tin báo số phòng cho T1. Thùy đến khách sạn, báo với L là đi lên Phòng 303 gặp bạn trai. Tại phòng, cả hai thực hiện việc mua bán dâm 02 lần. M chuyển khoản 800.000 đồng (do T1 chủ động giảm giá cho M) từ tài khoản ngân hàng của M đến tài khoản Ngân hàng của T1. Khi cả hai đang nghỉ ngơi tại phòng thì bị kiểm tra. L không biết việc T1 và M sử dụng Phòng 303 của khách sạn làm địa điểm giao dịch mua bán dâm. Thùy khai nhận, hàng tháng, T1 liên hệ với tài khoản Telegram “Doremi6699”, thỏa thuận về việc đăng bài quảng cáo bán dâm của T1 trên trang web Rphang.la với giá 1.600.000 đồng/tháng. Thùy thanh toán qua hình thức chuyển khoản đến các tài khoản ngân hàng khác nhau theo thông tin cung cấp của tài khoản Telegram nêu trên.

Tại Phòng 107 có người bán dâm Trần Thị Thùy D đang có mặt trong phòng chờ người mua dâm và Lê Trần Hoa N1 được D thuê đến để trang điểm cho D. Do đã thực hiện hành vi bán dâm tại khách sạn Q nhiều lần nên D biết việc chủ khách sạn cho người bán dâm sử dụng Phòng 107 để thay đồ. D thường sử dụng mục tìm quanh đây của Z để tìm người mua dâm. Riêng N1 không liên quan đến việc mua bán, môi giới bán dâm của D và các đối tượng khác tại khách sạn.

Tại Phòng 206, Triệu Thị P đang ở phòng chờ người mua dâm đến. P khai nhận bán dâm qua môi giới từ đối tượng sử dụng tài khoản Zalo “Anh da đen” (không xác định lai lịch). Sau khi bán dâm, P chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng số 0353914608, chủ tài khoản D1 mở tại Ngân hàng V1. Ngày 06/4/2024, “Anh da đen” nhắn báo số phòng 206 tại Khách sạn Q cho Phạm đến bán dâm, khi P đang ở trong phòng chờ khách thì bị kiểm tra. P và L đều sử dụng tài khoản Zalo tham gia nhóm “BK” do L sử dụng tài khoản Zalo “Quạ đen” làm trưởng nhóm, mục đích để báo nếu có xảy ra vấn đề trong quá trình sử dụng phòng tại khách sạn làm địa điểm mua bán dâm. L không tham gia việc môi giới bán dâm cho P. Xác minh thông tin chủ tài khoản ngân hàng Dương Thị Thanh T2 (sinh ngày 29/09/2005, HKTT: thôn P, xã V, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, CCCD số [...], do Cục C cấp ngày 27/3/2021), T2 cho biết đã đăng ký mở và bán tài khoản ngân hàng trên với giá 1.000.000 đồng cho một đối tượng không xác định lai lịch vào khoảng cuối năm 2023.

Tại Phòng 304 và 307 của khách sạn có các đối tượng Phạm Nguyễn Minh L2 và Nguyễn Đoàn T3 đang chờ mua dâm với Phùng Thị Ngọc H1 nhưng chưa mua dâm thì bị kiểm tra, phát hiện.

Tại Phòng 205, Trần Văn T4 đang chờ mua dâm của đối tượng Nhã L3, sử dụng thuê bao số 0977990763 nhưng chưa gặp được đối tượng L3 thì bị kiểm tra, phát hiện.

Tại Phòng 104, Nguyễn Cao V đã thực hiện mua dâm với giá 500.000 đồng của đối tượng Hoàng N2, sử dụng thuê bao số 0971392773. Vấn có thông tin của đối tượng qua trang web gaigoihcm.vip. Sau khi thực hiện mua dâm, đối tượng bán dâm ra về, V nằm nghỉ tại khách sạn thì bị kiểm tra, phát hiện. Quá trình điều tra, Vấn xác định 05 đối tượng Phùng Thị Ngọc H1, Bùi Ngọc T1, Trần Thị Thùy D, Lê Trần Hoa N1, Triệu Thị P không phải người đã bán dâm cho V vào ngày 06/4/2024 tại Phòng 104 của khách sạn Q.

Tại khu vực lễ tân, Lê Hoàng L4 đang làm thủ tục thuê phòng để thực hiện hành vi mua dâm của đối tượng Linh T5, sử dụng thuê bao số 0978574854, đăng thông tin qua trang web gaigoihcm.vip thì bị kiểm tra nên chưa gặp và mua dâm được.

Quá trình điều tra, Lê Hồng L khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. L xác định mỗi ngày có khoảng từ 10-15 lượt khách đến thuê phòng trong đó có khách đến mua bán dâm nhưng không xác định cụ thể số lượng, L thu lợi từ 900.000 đến 1.400.000 đồng một ngày, do đó số tiền thu lợi bất chính trong khoảng tiền thu thập từ 27.000.000 đồng đến 42.000.000 đồng. Tuy nhiên, L không xác định việc giao dịch những lần trên giữa khách và gái bán dâm có hay không có việc bán dâm, quan hệ tình dục với nhau, không có sổ sách, tài liệu ghi nhận.

Tại Cơ quan điều tra, H1 khai nhận, để có người mua dâm, H1 liên hệ với tài khoản T6 “Mr.L5” để đăng bài trên trang web gaito.sh với giá 4.000.000 đồng/tháng, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản số [...] của H1 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 đến tài khoản ngân hàng số 01671698001 tên Nguyễn Thị Phương M1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần T7. Qua xác minh thông tin chủ tài khoản Nguyễn Thị P1 (sinh ngày 22/9/1998, đăng ký thường trú tại xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình, Chứng minh nhân dân số [...], do Công an tỉnh Q cấp ngày 06/6/2013), P1 cho biết bị mất giấy tờ vào năm 2016, P1 không đăng ký và sử dụng tài khoản ngân hàng nêu trên.

Qua kiểm tra dữ liệu tin nhắn Zalo của H1 và L, xác định, vào các ngày 04, 05, 06/4/2024, H1 nhắn tin cho L qua ứng dụng Zalo để thông báo số phòng hẹn bán dâm để L theo dõi, xác nhận bằng cách thả tim tin nhắn của H1. Cơ quan điều tra đã tiến hành phục hồi dữ liệu điện thoại của H1, đối chiếu với thông tin trong Sổ quản lý lưu trú tại khách sạn, tuy nhiên không xác định được thông tin của những người mua dâm của H1 vào các ngày trên.

Đối với bà Lê Thị Thu T cho L thuê lại căn nhà để kinh doanh khách sạn, bà T không ở tại địa chỉ trên, không biết việc L sử dụng căn nhà để hoạt động chứa mại dâm.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max, có số IMEI: 356714114141720.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, có số IMEI: 356572080982844.
  • 01 bao cao su đã qua sử dụng thu tại phòng 105.
  • 02 bao cao su đã qua sử dụng thu tại phòng 303.
  • 01 (một) CPU máy tính để bàn hiệu DELL Optiplex 3010.
  • 02 đầu ghi camera tại khách sạn (hiệu KBVision, Model: KX – 7116H1 và hiệu LOREX, Model: LHA2116LC-D).
  • 01 (một) sổ quản lý lưu trú màu hồng.

Cơ quan điều tra đã nhập kho toàn bộ vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKS-TB ngày 22/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Lê Hồng L về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Lê Hồng L từ 02 năm đến 03 năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm đến 05 năm về tội Chứa mại dâm;

Về vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Sau phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận, bào chữa bổ sung mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Lê Hồng L, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 06/4/2024, Lê Hồng L thực hiện hành vi sử dụng khách sạn “Quỳnh Thư”, địa chỉ 49 đường C, Phường A, quận T thuộc quyền quản lý, sử dụng của L để chứa mại dâm với mục đích thu tiền phòng, bị phát hiện và bắt quả tang tại Phòng 105. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hữu L6 đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi chứa mại dâm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở tại địa phương. Vì mại dâm là một tệ nạn xã hội, thường là nguyên nhân dẫn đến các hệ lụy nghiêm trọng khác. Bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng do tham lam, hám lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả và sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác do được tặng 03 Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất trong thời gian công tác tại lực lượng Công an nhân dân. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Ngoài ra, bị cáo phạm tội lần đầu có nhân thân tốt, bà ngoại bị cáo được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát;

Xét nhân thân của bị cáo tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không có vi phạm gì; tại phiên tòa bị cáo cũng đã tự nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đồng thời, cũng để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, nghĩ không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo hưởng án treo có thời gian thử thách, cũng có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, để bị cáo tự cải tạo. Việc bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Vì vậy, việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo để đề nghị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về vật chứng vụ án:

  • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max, có số IMEI: 356714114141720 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, có số IMEI: 356572080982844c. Xét đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 bao cao su đã qua sử dụng thu tại phòng 1 và 02 bao cao su đã qua sử dụng thu tại phòng 303. Xét đây là các tang vật của vụ án không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) CPU máy tính để bàn hiệu DELL Optiplex 3, 02 đầu ghi camera tại khách sạn (hiệu KBVision, Model: KX – 7116H1 và hiệu LOREX, Model: LHA2116LC-D) và 01 (một) sổ quản lý lưu trú màu hồng. Xét đây là tài sản bị cáo dùng để hoạt động kinh doanh khách sạn, không có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hồng L phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt bị cáo Lê Hồng L 02 (hai) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Hồng L cho Ủy ban nhân dân Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng:

  • - Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max, có số IMEI: 356714114141720 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, có số IMEI: 356572080982844c
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Hồng L: 01 (một) CPU máy tính để bàn hiệu DELL Optiplex 3, 02 đầu ghi camera tại khách sạn (hiệu KBVision, Model: KX – 7116H1 và hiệu LOREX, Model: LHA2116LC-D) và 01 (một) sổ quản lý lưu trú màu hồng.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 03 bao cao su đã qua sử dụng
  • (Theo Biên bản bàn giao vật chứng số 119/BB/2025 ngày 18/6/2025)

3. Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - UBND Phường 12, quận Tân Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tội chứa mại dâm)

  • Số bản án: 78/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Chứa mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chứa mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger