|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG Bản án số: 78/2025/HS-ST Ngày 16 tháng 12 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Thật và bà Lê Thị Thanh Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Tùng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Lương Đức T, sinh ngày 20/5/1960, nơi sinh: xã N, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nơi thường trú: số C đường N, khóm B, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lương Văn C và bà Lê Thị L, vợ Hồ Thanh L1, con: có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08 tháng 6 năm 2025 đến nay; có mặt;
2. Trần Văn K, sinh ngày 12/02/1957, nơi sinh: xã P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nơi thường trú: Tổ A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Hữu P và bà Nguyễn Thị T1, vợ Đặng Ngọc E, con: có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08 tháng 6 năm 2025 đến nay; có mặt;
3. Quách Lệ H, sinh ngày 15/11/1966, nơi sinh: xã M, tỉnh An Giang; giới tính: Nữ; nơi thường trú: số E, khóm M, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Quách Kiên T2 và bà Nguyễn Thị Đ, chồng Nguyễn Phong H1, con: có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08 tháng 6 năm 2025 đến nay; có mặt;
4. Trần Thị Mỹ L2, sinh ngày 08/01/1965, nơi sinh: xã T, tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nữ; nơi thường trú: số H, đường D, Khóm D, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn K1 và bà Phạm Thị Đ1, chồng Quách Trọng D, con: có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08 tháng 6 năm 2025 đến nay; có mặt;
Nguyên đơn dân sự: Thuế cơ sở 7 tỉnh An Giang - T tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: ông Nguyễn Công Đ2 – Chức vụ: Tổ trưởng Tổ nghiệp vụ, dự toán, pháp chế Thuế cơ sở 7 tỉnh An Giang làm đại diện (theo Văn bản số 4666/TCS7-HCTH ngày 29/9/2025 của ông Nguyễn Hữu Đ3 – Trưởng thuế cơ sở); địa chỉ: đường N, phường L, tỉnh An Giang; có mặt.
Người có liên quan đến vụ án: Văn phòng C2; địa chỉ: số B N, phường L, tỉnh An Giang do bà Cao Thị Hồng C1 là Trưởng văn phòng C2; vắng mặt.
Người làm chứng: Các ông, bà: Cao Thị Hồng C1, Lại Văn G, Nguyễn Thị Hoàng Y và Đoàn Thị Trúc P1 (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 5/2008, Lương Đức T, Trần Văn K, Quách Lệ H và Trần Thị Mỹ L2 cùng góp vốn thành lập Công ty TNHH T3; năm 2010, bốn người cùng góp vốn mua và đồng sở hữu thửa đất số 7, tờ bản đồ số 38, diện tích 2.283,7 m², được cấp các giấy chứng nhận số BC 649817 (CH 00672), BC 649818 (CH 00673), BC 649819 (CH 00674), BC 649820 (CH 00675) và thửa đất số 18, tờ bản đồ số 38, diện tích 407,4 m², được cấp các giấy chứng nhận số BA 481596 (CH 00675), ВА 481597 (CH 00152), ВА 481598 (CH 00153), ВА 481599 (C3), cùng tọa lạc tại phường B, tỉnh An Giang. Do kinh doanh không hiệu quả, năm 2021 Công ty tạm ngưng hoạt động; ngày 11/11/2021, các đồng sở hữu thống nhất chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng hai thửa đất nêu trên cùng tài sản gắn liền với đất cho Trần Thị Mỹ L2 với giá chuyển nhượng thực tế 18.000.000.000 đồng. Ngày 23/11/2021, tại Văn phòng C2, Lương Đức T, Trần Văn K và Quách Lệ H ký hợp đồng chuyển nhượng 3/4 quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất cho Trần Thị Mỹ L2, các bên thỏa thuận ghi giá chuyển nhượng trong hợp đồng là 6.000.000.000 đồng, thấp hơn giá thực tế nhằm giảm nghĩa vụ thuế; theo hợp đồng, bên chuyển nhượng có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân, Trần Thị Mỹ L2 nộp lệ phí trước bạ. Sau khi ký hợp đồng, Trần Thị Mỹ L2 ủy quyền cho nhân viên Văn phòng C2 thực hiện thủ tục kê khai thuế, đăng ký biến động; ngày 03/12/2021, Trần Thị Mỹ L2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên đối với hai thửa đất nêu trên. Ngày 25/7/2024, Trần Văn K có đơn tố giác về việc kê khai giá chuyển nhượng thấp hơn giá thực tế; sau khi làm việc với cơ quan chức năng, ngày 26/8/2024, Trần Thị Mỹ L2 đã kê khai lại theo giá chuyển nhượng thực tế 18.000.000.000 đồng và nộp bổ sung lệ phí trước bạ theo quy định.
* Tại kết luận giám định số 07/KL-GĐTP ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tổ giám định tư pháp Chi Cục thuế khu vực X kết luận: Số tiền gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 168.602.337 đồng. Trong đó tiền thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 150.000.000 đồng, tiền Lệ P2 trước bạ là 18.602.337 đồng.
* Tại kết luận giám định số 702/KL-KTHS, ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Phòng K2 Công an tỉnh A kết luận:
- Chữ ký mang tên Lương Đức T và chữ viết ghi họ tên “Lương Đức T” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3 so với chữ ký mang tên Lương Đức T và chữ viết ghi họ tên “Lương Đức T” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M7 là do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký mang tên Trần Văn K và chữ viết ghi họ tên “Trần Văn K” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3 so với chữ ký mang tên Trần Văn K và chữ viết ghi họ tên “Trần Văn K” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M8 đến M15 là do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký mang tên Trần Thị Mỹ L2 và chữ viết ghi họ tên “Trần Thị Mỹ L2" trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3 so với chữ ký mang tên Trần Thị Mỹ L2 và chữ viết ghi họ tên “Trần Thị Mỹ L2” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M16 đến M23 là do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký mang tên Quách Lệ H và chữ viết ghi họ tên “Quách Lệ Hoa” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3 so với chữ ký mang tên Quách Lệ H và chữ viết ghi họ tên “Quách Lệ Hoa” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M24 đến M30 là do cùng một người ký và viết ra.
* Tại kết luận giám định số 917/KL-KTHS ngày 16/8/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh A kết luận: Tìm thấy giữ liệu trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI 1: 8662290648 và số IMEI 2: 866229064815374 (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD dữ liệu trích xuất kièm theo giao cho Cơ quan điều tra.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại hiệu Redmi Note 12 của Trần Văn K;
- Lương Đức T nộp 50.000.000 đồng, Quách Lệ H nộp 50.000.000 đồng, Trần Văn K nộp 50.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKSKV9 ngày 29 tháng 10 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang đã truy tố Lương Đức T, Quách Lệ H, Trần Văn K, Trần Thị Mỹ L2 về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình Sự.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo Lương Đức T, Trần Thị Mỹ L2, Quách Lệ H, Trần Văn K khai báo phù hợp với nội dung vụ án nêu trên, trong giai đoạn điều tra đã tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đều công nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang truy tố là đúng người, đúng tội, không oan.
Các bị cáo T, H, L2 thừa nhận hành vi, nhưng việc chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng đối với tài sản chỉ suy nghĩ làm sao giảm đi mức thấp nhất nghĩa vụ phải nộp, cũng không nghĩ đó là động cơ vụ lợi. Bị cáo L2 đề nghị xem xét giảm nhẹ do bị cáo có cha là người hoạt động cách mạng.
Bị cáo Trần Văn K trình bày: Bị cáo nhận thức được hành vi hạ giá chuyển nhượng mà giữa bị cáo và các bị cáo T, H, L2 đã thỏa thuận từ năm 2021, nhưng thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng cho bị cáo L2 cũng chỉ nghĩ là để giảm mức phải nộp thuế thu nhập cá nhân của bị cáo và của bị cáo T, H, nên mới đồng thuận thống nhất mức giá ghi trong hợp đồng, do sau này nhận thức việc ký hợp đồng cho bị cáo L2 là không đúng thỏa thuận, cũng như giữa bị cáo với các bị cáo khác có mâu thuẫn cá nhân, nên bị cáo đã tố cáo hành vi của bị cáo L2 về việc giảm giá đất theo Biên bản họp Hội đồng thành viên công ty, bị cáo ban đầu chỉ nhận thức mình tố cáo hành vi của bị cáo L2, không nghĩ tới hậu quả của việc thỏa thuận trong hợp đồng chuyển nhượng trong đó có trách nhiệm của bị cáo, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, việc Cáo trạng truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Người có quyền lợi liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa; đại diện Thuế cơ sở 7, tỉnh An Giang là ông Nguyên Công Đ4 xác định: việc các bị cáo kê khai giá trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền thuế thu nhập cá nhân 150.000.000 đồng và 18.602.337 đồng lệ phí trước bạ. Yêu cầu T, K, H nộp khắc phục 150.000.000 đồng. Đối với số tiền lệ phí L2 đã nộp 90.000.000 đồng, cơ quan Thuế sẽ xem xét đối chiếu hoàn trả lại số tiền đã nộp thừa.
Người làm chứng Cao Thị Hồng C1, Đoàn Thị Trúc P1, Nguyễn Thị Hoàng Y, Lại Văn G trình bày như nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
+ Đề nghị xử phạt bị cáo Lương Đức T, Quách Lệ H và Trần Văn K từ 110.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng về tội “Trốn thuế”.
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
+ Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ L2 từ 100.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng về tội “Trốn thuế”
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.
Về xử xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 màu vàng, model 2321RAAEG, bên trong có 01 sim số 0919.993.384, đã qua sử dụng của Trần Văn K, đề nghị trả lại cho bị cáo K do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Các bị cáo T, H, L2, K không tham gia phần tranh luận, nhưng tại lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Tại các văn bản tố tụng xác định Thuế cơ sở 7 tỉnh An Giang - T tỉnh An Giang là người liên quan trong vụ án, nhưng sau khi xem xét theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất, xác định tư cách tham gia tố tụng đúng của Thuế cơ sở 7 tỉnh An Giang - T tỉnh An Giang là nguyên đơn dân sự trong vụ án, nên cần xác định đúng tư cách tố tụng của Thuế cơ sở 7 tỉnh An Giang – Thuế tỉnh An Giang theo quy định pháp luật.
- Tại phiên toà, những người có quyền lợi liên quan và người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo T, H, K, L2 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của nguyên đơn dân sự, người có liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Các bị cáo Lương Đức T, Trần Văn K, Quách Lệ H, Trần Thị Mỹ L2 vào tháng 5/2008 góp vốn để thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3, đến năm 2010 các bị cáo cùng góp vốn để đồng sở hữu với các thửa đất: thửa đất số 7, tờ bản đồ số 38, diện tích 2.283,7m² và thửa đất số 18, tờ bản đồ số 38, diện tích 407,4m², vị trí khu đất tọa lạc tại phường B, tỉnh An Giang, nhưng đến năm 2021 do việc kinh doanh không thuận lợi, nên Công ty tạm ngừng hoạt động kinh doanh, nên các bị cáo đã họp Hội đồng thành viên công ty vào ngày 11/11/2021 thỏa thuận, thống nhất có sự chứng kiến của luật sư là ông Lại Văn G, thỏa thuận: chuyển nhượng tài sản của T, K, H, L2 đồng sở hữu là quyền sử dụng đất cho L2 đối với thửa đất số 7, diện tích 2283,7m² theo giấy chứng nhận số: BC 649817 (CH 00672); BC 649818 (CH00673); BC 649819 (CH00674); BC 649820 (CH00675) và thửa đất số 18, diện tích 407,4m² theo giấy chứng nhận số: BA 481596 (CH 00675); ВА 481597 (CH00152); ВА 481598 (CH00153); ВА 481599 (CH00154) giá trị chuyển nhượng là 18.000.000.000 đồng kèm theo các tài sản: Nhà kho, 02 hệ thống cần trục xếp vở hàng, 01 máy dập tay vê, 01 cân điện tử 3.000kg, 03 ba lăng 3000kg, 01 cân bàn 500kg, 01 máy bơm rửa xe, 01 trạm biến thế 3 pha đã đưa vào Công ty sử dụng trong quá trình kinh doanh và thỏa thuận khác liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bị cáo K. Đến ngày 23/11/2021, các bị cáo T, H, K, L2 thống nhất ký hợp đồng chuyển nhượng với các quyền sử dụng đất trên, tài sản nêu trên với giá là 6.000.000.000 đồng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (chuyển nhượng ¾ quyền sử dụng đất) số 12016, quyển số 19/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/11/2021 do công chứng viên Cao Thị Hồng C1 thuộc Văn phòng C2 có địa chỉ tại số B đường N, phường L, tỉnh An Giang có giá trị thấp hơn giá thỏa thuận thực tế là 18.000.000.000 đồng, nhằm giảm bớt thuế phải nộp, theo thỏa thuận tại hợp đồng chuyển nhượng thì các bị cáo T, H, K phải chịu thuế thu nhập cá nhân, còn bị cáo L2 phải chịu toàn bộ lệ phí trước bạ, hành vi hạ giá trị chuyển nhượng của các bị cáo theo kết luận giám định số 07/KL-GĐTP ngày 29/4/2025 của Tổ giám định tư pháp Chi cục thuế khu vực XIX thì số tiền gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 168.602.337 đồng. Trong đó tiền thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 150.000.000 đồng, tiền lệ phí trước bạ là 18.602.337 đồng. Việc các bị cáo T, H, K, L2 hạ thấp giá trị chuyển nhượng so với giá thực tế để không phải chịu nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước với số tiền là 150.000.000 đồng là đã vi phạm quy định tại Điều 3, Điều 14, Điều 29; Điều 33 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2014. Bị cáo L2 mặc dù có gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước với số tiền là 18.602.337 đồng, theo Luật quản lý thuế, Luật phí và lệ phí năm 2015 thì đây là khoản lệ phí trước bạ, không phải là khoản tiền thuế, khoản này là khoản L2 phải nộp vào ngân sách bắt buộc của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân theo thỏa thuận tại hợp đồng chuyển nhượng giữa các bị cáo, nhưng bị cáo là người đã trực tiếp ký hợp đồng, thỏa thuận giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước, trực tiếp là khoản thuế thu nhập cá nhân mà các bị cáo T, H, K phải chịu.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Lương Đức T, Quách Lệ H, Trần Văn K, Trần Thị Mỹ L2 đã phạm tội “Trốn thuế” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 200 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
[3] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực thuế, tài chính, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sản xuất, kinh doanh, làm thất thu cho ngân sách Nhà nước. Do đó, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Các bị cáo T, H, K, L2 là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm thỏa thuận giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấp hơn giá trị tài sản thực tế nhằm mục đích giảm số tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước là lỗi cố ý của các bị cáo. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình gây ra.
[4.2] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4.3] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo T, H, K, L2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền trốn thuế các bị cáo T, H, K đã nộp tại cơ quan thuế, cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả, bị cáo L2 sau khi bị cơ quan thuế kiểm tra đã tự nguyện nộp bổ sung lệ phí trước bạ phải nộp, nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo L2 do có cha ruột là người tham gia cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.4] Xét về tính đồng phạm: Các bị cáo khi ký hợp đồng chuyển nhượng đã có sự thống nhất với nhau về ý trí, cùng thực hiện một tột phạm, nhưng không có sự phân công vai trò, trách nhiệm, nên đây thuộc loại đồng phạm giảm đơn, trong vụ án này bị cáo L2 mặc dù không gây thiệt hại về thuế, nhưng lại có vai trò giúp sức tích cực, cùng thống nhất với các bị cáo khác để thực hiện việc ký kết hợp đồng để giúp cho bị cáo T, H, K giảm mức thuế phải nộp vào ngân sác Nhà nước, các bị cáo đều có ý trí thống nhất với nhau, có vai trò như nhau. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, việc xử phạt các bị cáo với hình thức phạt tiền như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Mặc dù các bị cáo có tính chất, vai trò như nhau, nhưng bị cáo L2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có cha ruột là người có công với cách mạng, nên khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết này để giảm nhẹ hơn so với các bị cáo còn lại. Các bị cáo T, H, K có trách nhiệm ngang bằng nhau, nhưng trong vụ án này bị cáo K vừa là người có công, vừa là người có tội, bị cáo K mặc dù biết việc tố giác hành vi tội phạm của các bị cáo khác cũng là ảnh hưởng đến mình, nhưng vẫn thực hiện việc tố giác tội phạm đây được xem là một trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị cáo, cũng là để đảm bảo tính chất khoan hồng của pháp luật hình sự, bảo vệ người tố giác hành vi phạm tội của người khác, nên sẽ xem xét mức phạt đối với bị cáo K là thấp hơn so với các bị cáo T, H so với mức đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 200 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, do việc các bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, các bị cáo thực hiện hành vi trốn thuế là thuộc các giao dịch dân sự, nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tổng số tiền trốn thuế đối với thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 150.000.000 đồng, nên cần buộc các bị cáo T, H, K phải liên đới trả lại cho Thuế cơ sở 7 tỉnh An Giang – Thuế tỉnh A; đối với số tiền lệ phí trước bạ là 18.602.337 đồng, bị cáo L2 phải có nghĩa vụ nộp vào Ngân sách nhà nước theo quy định. Ghi nhận, trong quá trình điều tra các bị cáo T, H, K đã nộp toàn bộ số tiền trốn thuế này, nên được khấu trừ vào số tiền mà các bị cáo phải nộp, đối với số tiền bị cáo L2 đã nộp bổ sung số tiền 54.709.408 đồng theo giấy nộp tiền số 0019957 ngày 26/4/2024, nên tổng số tiền bị cáo L2 đã nộp lệ phí trước bạ tại cơ quan Thuế là 90.006.000 đồng, Cơ quan thuế phải có trách nhiệm đối chiếu tiền lệ phí trước bạ mà bị cáo L2 phải có nghĩa vụ nộp, nếu bị cáo L2 nộp thừa thì cơ quan Thuế phải có trách nhiệm hoàn trả lại tiền thừa cho bị cáo L2.
[5] Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 màu vàng, model 2321RAAEG, bên trong có 01 sim số 0919.993.384, đã qua sử dụng của Trần Văn K là tài sản riêng của bị cáo K, không liên quan không đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, đối với án phí dân sự sơ thẩm. Do các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền đã gây thiệt hại, nên theo quy định tại điểm g kho ản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì các bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lương Đức T, Trần Văn K, Quách Lệ H, Trần Thị Mỹ L2 phạm tội “Trốn Thuế”
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
- Xử phạt bị cáo Lương Đức T số tiền 110.000.000 đồng (bằng chữ: Một trăm mười triệu đồng), để sung công quỹ Nhà nước. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn K số tiền 100.000.000 đồng (bằng chữ:Một trăm triệu đồng), để sung công quỹ Nhà nước. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Xử phạt bị cáo Quách Lệ H số tiền 110.000.000 đồng (bằng chữ: Một trăm mười triệu đồng), để sung công quỹ Nhà nước. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ L2 số tiền 100.000.000 đồng (bằng chữ:Một trăm triệu đồng), để sung công quỹ Nhà nước. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
- Buộc các bị cáo Lương Đức T, Trần Văn K, Quách Lệ H phải liên đới bồi hoàn cho Thuế Cơ sở 7, tỉnh An Giang - Thuế tỉnh A số tiền trốn thuế là 150.000.000 đồng (bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng). Xác nhận các bị cáo đã nộp đủ số tiền theo Ủy nhiệm chi của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh A cho Thi hành án dân sự tỉnh An Giang số 841/3806 ngày 20/11/2025 và Phiếu hạch toán nộp tiền mặt số 6763, ngày 29/5/2025, phiếu hạch toán nộp tiền mặt số 6762 ngày 29/5/2025, giấy nộp tiền mặt ngày 02/6/2025.
- Buộc bị cáo Trần Thị Mỹ L2 phải hoàn cho Thuế Cơ sở 7, tỉnh An Giang – Thuế tỉnh An Giang số tiền là 18.602.337 đồng (bằng chữ: Mười tám triệu, sáu trăm không hai nghìn, ba trăm ba mươi bảy đồng) là tiền khoản tiền phí, lệ phí trước bạ theo quy định. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền là 54.703.408 đồng theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 0019957 ngày 26/08/2024. Kiến nghị Thuế Cơ sở 7, tỉnh An Giang – Thuế tỉnh An Giang có trách nhiệm đối chiếu khoản tiền phí, lệ phí trước bạ mà bị cáo L2 phải có nghĩa vụ nộp, nếu bị cáo nộp thừa thì cơ quan Thuế phải có trách nhiệm hoàn trả lại tiền thừa cho bị cáo L2.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo Trần Văn K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 màu vàng, model 2321RAAEG, bên trong có 01 sim số 0919.993.384.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A với Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – Thi hành án tỉnh An Giang).
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lương Đức T, Trần Văn K, Quách Lệ H và Trần Thị Mỹ L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, nguyên đơn dân sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Thành Thật Lê Thị Thanh Vân |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |
Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về vụ án hình sự về tội trốn thuế
- Số bản án: 78/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo ký HĐ chuyển nhượng thấp hơn giá thỏa thuận
