TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 78/2025/HS-ST Ngày: 15 - 4 - 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Păng Ting Nôck
Ông Đặng Văn Miện
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
- Bị cáo: Phan Thu H, giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 22 tháng 11 năm 1996 tại Hà Nội; HKTT: E A, Phường Y, Quận T, Hà Nội; tạm trú: 33/20/5 N, Phường H, thành phố Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12. Cha nuôi: Ông Phan Đình K (đã chết); mẹ nuôi: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1949; gia đình có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất là bị cáo; Chồng, con: Chưa có.
Tiền án: Tại Bản án số 66/2022/HS-ST ngày 24/6/2022, Phan Thu H bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành Bản án và các nghĩa vụ mà Bản án đã tuyên.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 23/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ - Công an tỉnh L. (có mặt)
- Bị hại:
Chị Trần Thị Tuyết N, sinh năm 2000. Địa chỉ: 7 P, phường H, thành phố Đ. (vắng mặt)
Chị Đỗ Thị Thúy H2, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Hẻm C N, phường G, thành phố Đ. (vắng mặt)
Ông Đoàn Ngọc T, sinh năm: 1984. Địa chỉ: D P, phường H, thành phố Đ. (vắng mặt)
Chị Nguyễn Như Q, sinh năm: 1999. Địa chỉ: 3 N, phường B, thành phố Đ. (vắng mặt)
Ông Phan Vỹ L, sinh năm: 1990. Địa chỉ: 0 V, phường H, thành phố Đ. (vắng mặt)
Ông Nguyễn Ngọc Quang V, sinh năm: 1996. Địa chỉ: C Chung cư K K, phường A, thành phố Đ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công việc ổn định, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đ để bán lấy tiền tiêu xài. Từ ngày 08/2/2023 đến ngày 16/10/2024, H đã thực hiện 06 lần hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Lần 1: Vào khoảng 03 giờ sáng ngày 08/02/2023, Phan Thu H đi bộ từ đường V đến khu vực cây xăng P, phường H, thành phố Đ tìm kiếm xe máy để trộm cắp. Khi đi đến dãy trọ tại địa chỉ 7 P, phường H, thành phố Đ, H phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, biển số: 49D1-631.16 để trong sân dãy trọ không khóa cổ và không có người trông coi nên H đi đến dắt trộm xe trên về phòng trọ của mình. Sáng hôm sau, H thuê thợ làm lại khóa xe trên rồi lấy biển số 29F1-418.50 gắn vào để tránh bị Cơ quan Công an phát hiện, biển số trên thì H đã vứt bỏ nên không thu giữ được. (BL 70-97; 126-138)
Người bị hại: Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm: 2000, HKTT: TDP C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, trú tại: 7 P, phường H, thành phố Đ. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 186/KL-HĐĐG ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, BKS số: 49D1-631.16 có giá trị 24.000.000đ. Quá trình điều tra xác định, tài sản trên thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Bích L1, do bà L1 không có nhu cầu sử dụng nên cho bà N mượn. Ngày 07/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 4610/QĐ-ĐCSHS bằng hình thức trả lại xe mô trên cho bà Trần Thị Bích L1 và bà Trần Thị Tuyết N. Bà L1 và bà N đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. (BL 26-33; 175-186)
Lần 2: Vào khoảng 02 giờ 25 sáng, ngày 11/9/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, viền đỏ, biển số: 29F1-418.50, mang theo 01 cây kéo dài khoảng 10cm, đến cửa hàng S ở địa chỉ: D - I M, phường I, thành phố Đ do bà Đỗ Thị Thúy H2 là quản lý cửa hàng để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, H dùng cây kéo trên để cạy ổ khóa, sau đó lén lút vào cửa hàng, đến quầy thu ngân chiếm đoạt 01 điện thoại Oppo A18; 05 lon sữa, nhãn hiệu Aptamil Advanced; 01 bịch tã em bé, nhãn hiệu Honey, loại 42 miếng; 01 thùng ván sữa, nhãn hiệu Nestle và số tiền 3.228.000đ. H mang số tài sản lấy được về phòng trọ cất giấu rồi đăng bán trên mạng xã hội, còn số tiền trên H đã tiêu xài cá nhân hết. (BL 70-97; 126-138)
* Người bị hại: Bà Đỗ Thị Thúy H2, sinh năm 1992, HKTT: Hẻm C N, phường G, thành phố Đ. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 190/KL-HĐĐG ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A18 màu đen, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng có giá trị 2.000.000đ; 05 lon sữa, nhãn hiệu Aptamil Advanced, nhập khẩu Anh có giá trị 3.000.000đ; 01 bịch tã em bé, nhãn hiệu Honey, loại 42 miếng có giá trị 280.000đ; 01 thùng ván sữa, nhãn hiệu Nestle, nhập khẩu Pháp có giá trị 510.000đ. Phan Thu H đã tác động gia đình bồi thường cho bà Hằng số tiền 9.870.000đ, bà H2 đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm và viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. (BL 200-209)
Lần 3: Vào khoảng 00 giờ ngày 13/09/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, viền đỏ, biển số: 29F1-418.50 đến cửa hàng T1 ở địa chỉ: Lô R Khu Q, phường B, thành phố Đ do ông Đoàn Ngọc T làm chủ để trộm cắp tài sản. Quan sát không có người trông coi, H để xe phía trước cửa hàng, lén lút đi bộ đến cửa, bấm mật khẩu số đã nhớ từ trước để mở khóa, do trước đó H đã đến cửa hàng để mua đồ dùng cá nhân thì phát hiện gần khu vực cửa có treo 01 ổ khóa, được sử dụng mật khẩu, có ghi lại dãy mã số để mở khóa. Sau đó, H mở tủ đựng tiền tại khu vực quầy thu ngân để chiếm đoạt số tiền 9.890.000₫ (Chín triệu tám trăm chín mươi ngàn đồng), số tiền trên H đã tiêu xài cá nhân hết.(BL 70-97; 126-138)
* Người bị hại: Ông Đoàn Ngọc T, sinh năm 1984, HKTT: 420 P, phường H, thành phố Đ. Phan Thu H đã tác động gia đình bồi thường cho ông T số tiền 9.890.000đ, ông T đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm và viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. (BL 193-199)
Lần 4: Vào khoảng 03 giờ, ngày 11/10/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, viền đỏ, gắn BKS số: 29F1-418.50, mang theo kìm thủy lực đến cửa hàng C, địa chỉ: H M, phường I, Tp Đ do bà Nguyễn Như Q là quản lý cửa hàng để trộm cắp tài sản. Đến nơi, quan sát thấy không có người trông coi, H dùng kìm thủy lực cắt 04 ổ khóa, đột nhập vào cửa hàng, đến quầy thu ngân để chiếm đoạt số tiền 1.700.000đ rồi điều khiển xe về phòng trọ, số tiền trên H đã tiêu xài cá nhân hết. (BL 60-63; 70-97; 126-138)
* Người bị hại: Bà Nguyễn Như Q, sinh năm 1999, HKTT: D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa, trú tại: 3 N, phường B, thành phố Đ. Phan Thu H đã tác động gia đình bồi thường cho bà Q số tiền 1.700.000đ, bà Q đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm và viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. (BL 210-218)
Lần 5: Vào khoảng 03 giờ 40 phút, ngày 12/10/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, viền đỏ, gắn biển số: 29F1-418.50, mang theo kìm thủy lực đến cửa hàng H3, địa chỉ: B B, phường B, thành phố Đ do ông Phan Vỹ L làm chủ để trộm cắp tài sản. Đến nơi, quan sát thấy không có người trông coi, H dùng kìm thủy lực cắt khóa, lén lút đột nhập vào cửa hàng, mở tủ chiếm đoạt số tiền 2.000.000đ, số tiền trên H đã tiêu xài cá nhân hết. (BL 64-68; 70-97; 126-138)
* Người bị hại: Ông Phan Vỹ L, sinh năm 1990, HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, trú tại: 8 V, phường B, thành phố Đ. Phan Thu H đã tác động gia đình bồi thường cho ông Lê số tiền 2.000.000đ, ông L đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm và viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. (BL 187-192)
Lần 6: Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 16/10/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu trắng, viền đỏ, gắn biển số: 29F1-418.50, mang theo kìm thủy lực đến cửa hàng Đ, địa chỉ: G14 M, phường D, thành phố Đ do ông Nguyễn Ngọc Quang V làm chủ để trộm cắp tài sản. Đến nơi, H dừng xe để phía trước cửa hàng, quan sát thấy không có người trông coi, H lấy kìm thủy lực lén lút cắt 02 ổ khóa, đột nhập vào cửa hàng, mở tủ kính trưng bày để lấy trộm tài sản, gồm: 01 máy tính bảng, nhãn hiệu Apple, màu hồng, dung lượng 32GB, đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng đồng, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xám, dung lượng 256GB, đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh dương, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng. H tiếp tục mở hộc tủ phía dưới để chiếm đoạt số tiền 500.000đ. Sau đó, H đem toàn bộ tài sản lấy trộm về phòng trọ cất giấu, số tiền trên H đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 23/10/2024, H bị Cơ quan Công an phát hiện và thu giữ toàn bộ tang vật tại phòng trọ tại địa chỉ: 3 N, phường H, thành phố Đ. Tại Cơ quan Công an, Phan Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.(70-97; 126-138)
* Người bị hại: Ông Nguyễn Ngọc Quang V, sinh năm 1996, HKTT: 199/1 P, phường H, thành phố Đ, trú tại: C Chung cư K K, phường A, thành phố Đ. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 186/KL-HĐĐG ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 máy tính bảng, nhãn hiệu Apple, màu hồng, dung lượng 32GB, đã qua sử dụng có giá trị 2.400.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng đồng, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng có giá trị 3.000.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xám, dung lượng 256GB, đã qua sử dụng có giá trị 11.000.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh dương, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng có giá trị 7.500.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng có giá trị 5.000.000đ. Ngày 07/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 4611/QĐ-ĐCSHS bằng hình thức trả lại toàn bộ số tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Ngọc Quang V. Đồng thời, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho ông V số tiền 500.000đ, ông V đã nhận đủ số tiền và toàn bộ tài sản trên, không có yêu cầu gì thêm và viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. (BL 20, 21, 52-69; 168-174)
Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSĐL-LĐ ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Phan Thu H về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay,
Bị cáo Phan Thu H khai nhận hành vi đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt trình bày ý kiến vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phan Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt, được nhận nuôi từ nhỏ, bố nuôi bị cáo đã chết, mẹ nuôi của bị cáo tuổi đã cao, sức khỏe yếu, bị cáo phải tự mưu sinh kiếm sống. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo tác động gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả và được tất cả những người bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù cũng về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chưa chấp hành Bản án và các nghĩa vụ mà Bản án đã tuyên nhưng lại tiếp tục phạm tội mới nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 BLHS.
Căn cứ vào tính chất, mức độ cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 ; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Thu H mức án từ 02 đến 03 năm tù. Áp dụng Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt 36 tháng tù của bản án số 66/2022/HS-ST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát số 29F1 418.50. Tịch thu xung công quỹ Nhà nước 01 kìm thủy lực màu đen.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin lỗi mẹ cũng như những người bị hại và gia đình bị hại. Bị cáo vô cùng ăn năn, hối hận đối với hành vi phạm tội do mình thực hiện, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Những người bị hại mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Xét lời trình bày của các bị hại trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt những người bị hại theo quy định.
[3] Về căn cứ kết tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, không gian, địa điểm và cách thức thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/02/2023 đến ngày 16/10/2024, bị cáo Phan Thu H đã 06 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau: Ngày 08/02/2023, Phan Thu H đã lấy trộm của bà Trần Thị Tuyết N 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 49D1-631.16 có giá trị 24.000.000 đồng. Ngày 11/9/2024, H thực hiện hành vi trộm cắp của bà Đỗ Thị Thúy H2 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A18 màu đen, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng có giá trị 2.000.000đ; 05 lon sữa nhãn hiệu Aptamil Advanced, có giá trị 3.000.000đ; 01 bịch tã em bé nhãn hiệu Honey, loại 42 miếng có giá trị 280.000đ; 01 thùng ván sữa nhãn hiệu Nestle, nhập khẩu Pháp có giá trị 510.000đ và số tiền 3.228.000đ. Ngày 13/9/2024, H thực hiện hành vi trộm cắp của ông Đoàn Ngọc T số tiền 9.890.000đ. Ngày 11/10/2024, H thực hiện hành vi trộm cắp của bà Nguyễn Như Q số tiền 1.700.000đ. Ngày 12/10/2024, H lấy trộm của ông Phan Vỹ L số tiền 2.000.000đ. Đến ngày 16/10/2024, H tiếp tục thực hiện hành vi lấy trộm của ông Nguyễn Ngọc Quang V 01 máy tính bảng, nhãn hiệu Apple, đã qua sử dụng có giá trị 2.400.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng đồng, đã qua sử dụng có giá trị 3.000.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xám, đã qua sử dụng có giá trị 11.000.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh dương, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng có giá trị 7.500.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, đã qua sử dụng có giá trị 5.000.000đ và số tiền 500.000đ. Tổng cộng Phan Thu H đã thực hiện 06 lần hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 76.008.000 đồng.
Do đó, HĐXX xét thấy có đủ căn cứ tuyên bố bị cáo Phan Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo đã có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện từ trước, thời điểm bị cáo thực hiện hành vi đều vào lúc nửa đêm đến rạng sáng, lợi dụng sự sơ hở của các chủ sở hữu để lén lút phá khóa, trộm cắp tài sản và đăng bán trên mạng xã hội để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Đánh giá nhân thân và áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không lấy đó làm gương để tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích; không tự nguyện đi chấp hành án mà lại bỏ đi khỏi địa phương và tiếp tục phạm tội mới.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa chấp hành hình phạt tù của bản án số 66/2022/HS-ST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội nhưng lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 BLHS.
Ngoài ra, trong vụ án này bị cáo đã 06 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, các lần trộm cắp đều đã hoàn thành nhưng nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt không áp dụng tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS “phạm tội 02 lần trở lên” đối với bị cáo là có sự thiếu sót.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả cho những người bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt, được nhận nuôi từ nhỏ, mẹ bị cáo hiện đã lớn tuổi. Bản thân bị cáo không có tài sản, công việc và thu nhập không ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 01 biển kiểm soát xe mô tô số hiệu 29F1 418.50 được xác định gắn trên xe mô tô hiệu Honda Wave do Phan Thu H làm chủ sở hữu. Chiếc xe này bị cáo đã bán từ lâu nhưng còn giữ lại biển số. Hiện không truy tìm được chủ sở hữu chiếc xe nên cần tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng này là phù hợp.
Đối với 01 cây kìm thủy lực màu vàng đen là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Phan Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Thu H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 66/2022/HS-ST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội và hình phạt của bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/10/2024
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát số 29F1-418.50 và 01 cây kìm thủy lực,màu vàng đen, dài khoảng 40cm.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Thu H phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Quang Huy |
Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 78/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thu Hương phạm tội “Trộm cắp tài sản”
