Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 78/2025/HS-ST

Ngày 15-4-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Hồng.
  2. Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đàm Trung Đ, sinh năm 1991.

Quê quán: huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không

Con ông Đàm Mạnh T, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo có vợ là Chu Quỳnh Ngọc L, sinh năm 2004 và có 01 con sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến ngày 19/3/2025 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh, hiện tại ngoại (Có mặt).

* Bị hại: Công ty TNHH T3.

Địa chỉ: Số F, đường X, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Lương A – Chức vụ: Giám đốc.

(Bà A vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị N, sinh năm 1980.

- Ông Chu Mạnh T2, sinh năm 1980.

Đều địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Bà N, ông T2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đàm Trung Đ, sinh năm 1991, đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có vợ là Chu Quỳnh Ngọc L, sinh năm 2004. Đ sinh sống cùng gia đình chị L tại thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Gia đình chị L có kinh doanh mua bán phế liệu. Bà Trần Thị N, sinh năm 1980 là mẹ chị L giao cho Đ sử dụng chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai biển kiểm soát 30U-3358 để vận chuyển phế liệu.

Khoảng 21 giờ ngày 04/12/2024, Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30U-3358 chở hàng nhựa phế thải đến địa phận huyện L, tỉnh Bắc Giang để bán. Đến khoảng 01 giờ ngày 05/12/2024, Đ điều khiển xe ô tô đi qua cửa hàng sửa chữa lốp xe ô tô Vinh A1 ở số nhà F đường X, phường X, thành phố B thì nhìn thấy trên vỉa hè có nhiều lốp xe ô tô cũ đã qua sử dụng được xếp chồng lên nhau. Số lốp xe ô tô này là của Công ty TNHH T3 do bà bà Trần Thị Lương A, sinh năm 1954, trú tại số nhà A đường N, phường N, thành phố B là giám đốc công ty để tại đó. Đ nảy sinh ý định trộm cắp lốp xe ô tô này để bán lấy tiền. Đ lùi xe ô tô đến vị trí để lốp xe rồi xuống xe dùng 2 tay vần từng chiếc lốp xe ô tô cho lên thùng xe tải. Đ trộm cắp được tổng số 16 chiếc lốp xe ô tô các loại rồi vận chuyển và để tại bãi phế liệu của gia đình và không nói cho mọi người trong nhà biết việc trộm cắp. Sau đó, bà Trần Thị N đã bán những chiếc lốp xe ô tô này cho những người không quen biết thu mua phế liệu.

Khoảng 21 giờ ngày 09/12/2024, Đ điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 30U-3358 chở hàng phế thải đến lò gạch thuộc địa phận huyện L, tỉnh Bắc Giang để bán sau đó điều khiển xe ô tô ra về. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 10/12/2024 khi Đ điều khiển xe đi qua cửa hàng sửa chữa, lắp lốp xe ô tô Vinh A1 ở số nhà F đường X, phường X, thành phố B thì nhìn thấy trên vỉa hè ngay sát cửa hàng có nhiều lốp xe ô tô cũ đã qua sử dụng xếp chồng lên nhau nên nảy sinh ý định tiếp tục trộm cắp. Đ lùi xe ô tô đến vị trí để lốp xe rồi xuống xe dùng 2 tay vần từng chiếc lốp xe ô tô cho lên thùng xe tải. Đức trộm cắp được tổng số 50 chiếc lốp xe ô tô các loại rồi vận chuyển và để tại bãi phế liệu của gia đình.

Ngày 10/12/2024, bà Trần Thị Lương A phát hiện bị trộm cắp các lốp xe ô tô nên có đơn trình báo và giao nộp 01 đĩa DVD-R lưu trữ 06 file video ghi lại hình ảnh người điều khiển xe ô tô BKS 30U-3358 trộm cắp 50 chiếc lốp xe ô tô của cửa hàng rồi đưa lên thùng xe ô tô chở đi.

Ngày 15/12/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Đàm Trung Đ đến làm việc thì Đ đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Đ giao nộp 01 chiếc điện thoại di động OPPO A18 lắp sim số 0946.158.222; kiểm tra điện thoại không phát hiện nội dung vi phạm pháp luật.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đàm Trung Đ tại thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thu giữ:

  • 50 chiếc lốp xe ô tô các loại.
  • 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai BKS 30U-3358.

Tiến hành cân kiểm tra 50 lốp xe ô tô các loại đã thu giữ xác định có tổng khối lượng 957,5 kg. Bà Trần Thị Lương A quan sát 50 lốp xe ô tô đã thu giữ và xác định là tài sản bị trộm cắp ngày 10/12/2024.

Kết luận định giá tài sản số 377/KL-HĐ ngày 11/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 16 chiếc lốp xe ô tô đều đã qua sử dụng, là lốp thải, phế liệu, tổng khối lượng 400 kg giá trị tại thời điểm ngày 05/12/2024 là 1.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 318/KL-HĐ ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 50 chiếc lốp xe ô tô đều đã qua sử dụng, là lốp thải, phế liệu, tổng khối lượng 957,5 kg giá trị tại thời điểm ngày 10/12/2024 là 2.585.250 đồng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video do bà Trần Thị Lương A giao nộp. Kết luận giám định số 363/KL-KTHS ngày 25/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 06 (sáu) file video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
  2. Trích xuất được 24 (hai mươi bốn) hình ảnh liên quan đến sự việc có trong các file video gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã cho bị cáo Đàm Trung Đ xem các đoạn video nêu trên. Kết quả Đ xác định có hình ảnh Đ trộm cắp 16 chiếc lốp xe ô tô vào ngày 05/12/2024 và hình ảnh Đ trộm cắp 50 chiếc lốp xe ô tô ngày 10/12/2024 tại vỉa hè trước cửa hàng V.

Cơ quan điều tra đã cho bị cáo Đ xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả, Đ xác định địa điểm trộm cắp lốp xe ô tô tại số F đường X, phường X, thành phố B và thực hiện thuần thục các động tác lùi xe ô tô đến gần vị trí đống lốp rồi dùng hai tay bê từng chiếc lốp để lên thùng xe như đã khai.

Đối với Đàm Trung Đ có hành vi trộm cắp 16 chiếc lốp xe ô tô ngày 05/12/2024 tổng trị giá 1.000.000 đồng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cơ quan điều tra đã đề nghị UBND phường X, thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trả lại bà Trần Thị Lương A tổng số 50 chiếc lốp xe ô tô đã thu giữ. Đối với 16 chiếc lốp xe ô tô mà Đ trộm cắp ngày 05/12/2024, bà Trần Thị N đã bán cho những người không quen biết nên không thu giữ được.

Chiếc xe ô tô Huyndai BKS 30U-3358 là của bà Trần Thị N cho Đ mượn để chở hàng phế liệu nên Cơ quan điều tra đã trả cho bà N.

Đối với chiếc điện thoại di động OPPO A18 lắp sim số 0946.158.222 do Đ giao nộp được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị N đã bồi thường cho bà Trần Thị Lương A 40.000.000 đồng. Bà A không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ cho bị cáo.

Đối với bà Trần Thị N đã bán 16 chiếc lốp xe ô tô nhưng không biết đây là tài sản do Đ trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

* Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 19 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đàm Trung Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đàm Trung Đ từ 06-08 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động OPPO A18 lắp sim số 0946.158.222 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin được hưởng án treo để có cơ hội cải sửa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 10/12/2024, Đàm Trung Đ điều khiển xe ô tô tải BKS 30U-3358 trên đường đi bán hàng phế liệu ra về thì dừng tại trước cửa hàng sửa chữa lốp xe ô tô Vinh Anh, địa chỉ số nhà F đường X, thành phố B rồi trộm cắp tổng số 50 chiếc lốp xe ô tô đều đã qua sử dụng, là lốp thải, phế liệu sau đó đem về để tại bãi phế liệu của gia đình ở thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên mục đích để bán. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 2.585.250 đồng, là tài sản của Công ty TNHH T3. Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ vật chứng và trả lại cho bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tự nguyện ra đầu thú, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, có bố đẻ là thương binh, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do nghề nghiệp của bị cáo không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

[9] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động OPPO A18 lắp sim số 0946.158.222 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Đối với hành vi trộm cắp 16 chiếc lốp xe ô tô ngày 05/12/2024 có tổng trị giá 1.000.000 đồng của Đàm Trung Đ, do chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cơ quan điều tra đã đề nghị UBND phường X, thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[12] Đối với bà Trần Thị N đã bán 16 chiếc lốp xe ô tô nhưng không biết đây là tài sản do Đ trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử phạt bị cáo Đàm Trung Đ 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 01(một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  2. Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động OPPO A18 lắp sim số 0946.158.222 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - UBND x.Tân Thành, h.Phú Bình, Thái Nguyên;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 78/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đàm Trung Đ trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger