Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 10 – TÂY NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HS-ST

Ngày: 02-12-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Cao Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Linh – Nguyên hiệu trưởng trưởng tiểu học thị trấn A Châu Thành.

Ông Lê Văn Lài – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Thế Ân, bà Phan Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Huỳnh L, sinh năm: 1971; nơi sinh: tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long); chỗ ở hiện nay: ấp B, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp B, xã A, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Tạ Thị T (đã chết); chồng tên Trần Văn H1, sinh năm: 1961 (sống chung không có đăng ký kết hôn); con có 01 người; tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2025, tạm giam từ ngày 29/5/2025 tại Phân trại tạm giam B, thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T cho đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1967; nơi sinh: tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã L, tỉnh cà Mau); chỗ ở hiện nay: ấp B, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp B, xã A, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T1 (đã chết) và bà Trịnh Kim L1 (đã chết); chông tên Ngô Văn M (đã chết); con có 4 người lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2025, tạm giam từ ngày 29/5/2025 tại Phân trại tạm giam B, thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T cho đến nay; có mặt.

2

- Bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Cháu Nguyễn Thị Duyên N, sinh ngày 29/9/2018; nơi cư trú: Khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của cháu N: Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị Duyên N: Ông Lê Minh H3, Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L và Nguyễn Thị H2 là những người bán hàng theo đoàn hội chợ do bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1989, trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh) làm chủ. Quá trình bán hàng, bà T2 có mượn của Nguyễn Thị Huỳnh L số tiền 2.200.000 đồng và mượn của Nguyễn Thị H2 số tiền 30.500.000 đồng. Bị cáo L và H2 đã nhiều lần đòi tiền nhưng bà T2 không trả, các bị cáo đã bàn với nhau đi tìm bà T2 để yêu cầu bà T2 trả số tiền đã mượn.

Ngày 19/5/2025, bị cáo H2 điều khiển xe mô tô biển số 69E1-673.21 của H2 chở L đi từ tỉnh Đồng Nai đến nhà tìm bà T2 nhưng không gặp được bà T2, L và H2 thuê nhà nghỉ để ngày hôm sau tiếp tục tìm bà T2. Đến khoảng hơn 10 giờ 00 phút ngày 20/5/2025, H2 điều khiển xe môtô biển số 69E1-673.21 chở L đi đến nhà bà T2 thì gặp ông Nguyễn Văn N1 là cha của bà T2 cùng cháu Nguyễn Thị Duyên N, sinh ngày 29/9/2018 là con ruột của bà T2. Tại đây, bé N đòi đi mua trà sữa nên L kêu H2 đưa số tiền 10.000 đồng cho cháu N. Đến khoảng hơn 11 giờ 00 phút cùng ngày, L thấy cháu N đạp xe đạp đi thì nảy sinh ý định bắt cóc cháu N để buộc bà T2 trả tiền, L nói với H2 việc bắt cóc cháu N thì H2 đồng ý, L điều khiển xe môtô chở H2 đi theo cháu N. Khi cháu N đi xe đạp đến trước quán ăn của bà Trịnh Thị Kim H4, sinh năm 1965, trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh), L dừng xe mô tô và nói với cháu N “đi theo bà ra chợ mua đồ chơi”, H2 dẫn cháu N đến trước quán ăn của bà H4 để gửi chiếc xe đạp của cháu N, L điều khiển xe môtô biển số 69E1-673.21 còn H2 ẵm cháu N lên xe môtô và đi về hướng tỉnh Vĩnh Long.

Trên đường đi, L và H2 nhận được điện thoại của bà T2, cả hai đều xác nhận đã bắt cóc cháu N và yêu cầu bà T2 phải trả số tiền mà bà T2 đã mượn của L và H2. Sau đó, L và H2 tiếp tục chở cháu N di chuyển về hướng tỉnh Long An để đi về Vĩnh Long, khi đi đến xã T, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) do trời tối và mưa nên L, H2 vào thuê phòng tại nhà nghỉ V để nghỉ qua đêm cùng với cháu N. Cùng ngày 20/5/2025, ông Nguyễn Văn N1 đến Công

3

an xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là Công an phường T, tỉnh Tây Ninh) trình báo. Đến 20 giờ 45 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T truy tìm, phát hiện bắt giữ H2 và L, giải thoát cho cháu Nguyễn Thị Duyên N và đưa về gia đình, sức khỏe của cháu N bình thường không bị ảnh hưởng gì.

Qua xác minh, Nguyễn Thị Huỳnh L, Nguyễn Thị H2 không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Cáo trạng số 44/CT-VKSKV10 ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L và Nguyễn Thị H2 về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L từ 03 năm tù đến 04 năm tù.
  • + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H2 từ 03 năm tù đến 04 năm tù.
  • + Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
  • - Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Nguyễn Thị Duyên N trình bày: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 đã truy tố. Hành vi của các bị cáo đã ảnh hưởng đến tâm lý của bị hại được pháp luật bảo vệ, việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án cho các bị cáo là là phù hợp. Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và chấp nhận đề nghị về mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
  • - Lời nói sau cùng của bị cáo: các bị cáo đã biết sai, mong hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

4

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Do quen biết nên bà Nguyễn Thị Thu T2 đã mượn tiền của bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L số tiền 2.200.000 đồng, mượn bị cáo Nguyễn Thị H2 số tiền 30.000.000 đồng nhưng không trả. Ngày 20/5/2025 tại khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh), bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L và bị cáo Nguyễn Thị H2 đã bắt giữ cháu Nguyễn Thị Duyên N (là con ruột của bà T2), sinh ngày 29/9/2018 nhằm mục đích ép buộc bà T2 trả số tiền đã mượn của các bị cáo. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng số 44/CT – VKSKV10 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm quyền tự do thân thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trất tự xã hội. Các bị cáo đã thực hiện hành vi bắt cóc cháu Nguyễn Thị Duyên N sinh ngày 29/9/2018, là đối tượng được pháp luật đặc biệt bảo vệ nên cần xử các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, vai trò hành vi phạm tội.

[4] Xét tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ rõ ràng.

Bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L là người khởi xướng, đưa ra ý tưởng bắt cóc cháu N nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H2.

Bị cáo Nguyễn Thị H2 sau khi được bị cáo L rủ rê bắt cóc cháu N, không can ngăn mà lại giúp sức thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội nhưng thấp hơn mức án của bị cáo L.

[5] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 40.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: cả 02 bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa từng bị kết án hay bị xử phạt hành chính.

5

[6] Hình phạt áp dụng: Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân các bị cáo, xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành những công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại về tội danh và mức hình phạt đối với các các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

01 xe mô tô và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 02 điện thoại di động là các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

02 căn cước công dân của các bị cáo, quần áo, nón bảo hiểm không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.

[9] Về bồi thường thiệt hại:

Gia đình bị hại đã nhận số tiền bồi thường 40.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L và Nguyễn Thị H2 phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
    • + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 20/5/2025.
    • + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H2 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 20/5/2025.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
      • 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Luvias FI, màu đen-đỏ, số máy: 1SK1004539, số khung: RLCL1SK10DY004537, biển số: 69E1-673.21 (đã qua

6

  1. sử dụng) và 1 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số: 69001148, tên chủ xe Nguyễn Thị H2, địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau, biển số đăng ký: 69E1-673.21 (bản gốc).
    • 01 (một) chiếc điện thoại di động (màn hình cảm ứng) nhãn hiệu Oppo A58, màu xanh, số Imeil: 865039062230810; số Imei2; 865039062230802; số ImeiSV: 91; số seri: ZD8L9XBEKZZHB6MF (đã qua sử dụng)
    • 01 (một) chiếc điện thoại di động (màn hình cảm ứng) nhãn hiệu Oppo F11, màu xanh - đen, số Imei1: 866988040703158; số Imei2: 866988040703141; số seri: FAC66PNNSWZS8DQW (đã qua sử dụng).
    • - Trả lại cho các bị cáo Nguyễn Thị H2:
      • 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị H2, số căn cước: [...] (Bản gốc).
      • 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh dương.
      • 01 (một) áo khoác Jean màu xanh nhạt, dài tay, phía sau cho chữ Kenzo.
    • - Trả lại cho các bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L:
      • 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Huỳnh L, số căn cước [...] (Bản gốc).
      • 01 (một) nón bảo hiểm màu vàng-đen.
      • 01 (một) áo Jean màu xanh, ngắn tay.

    (Vật chứng đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân Khu vực 10, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/11/2025).

  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh L và Nguyễn Thị H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án ./.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV.TAT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

7

  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND Khu vực 10;
  • - Phòng THADS Khu vực 10;
  • - Phân Trại tạm giam Bình Minh;
  • - Phòng PC10 Công an Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ;

Lê Cao Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TÂY NINH về bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 78/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger