Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HS-PT

Ngày 27 – 6 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Đoan Trang

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Thúy Mai

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:

Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 103/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thị M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị M, sinh ngày 29/11/2006 tại huyện B, tỉnh Hà Giang; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Đặng Thị M1; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Bích H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V, (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Diệp Văn B, Lê Văn G, Trần Hồng S; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Kim T, chị Đặng Thị T1, chị Bùi Huyền T2, anh Hoàng Văn H2, chị Nguyễn Thị Thu H3 không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 27/9/2024, sau khi uống bia xong, Diệp Văn B rủ và được anh Lương Văn C, một người tên D và 02 người bạn của D (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đồng ý đi hát karaoke tại xã M, huyện T. Sau đó, B nảy sinh ý

định rủ Lê Văn G, Trần Hồng S cùng nhau mua ma túy để sử dụng khi hát karaoke (Bằng không rủ, không nói cho anh C, người tên D và 02 người bạn của D). Tiếp đó, B sử dụng tài khoản FACEBOOK (FB) của B có tên “Bangcotay” gọi M2 đến tài khoản FB có tên “PHÙNG NGỌC ANH” (theo B khai FB này của người có tên là Phùng Ngọc A, sinh năm 1999 ở thị trấn Đ, huyện T) hỏi mua 02 chỉ ma túy Ketamine và 02 viên ma túy Kẹo với giá 3.000.000 đồng. Anh đồng ý và hẹn đến cột mốc cầu Đ, thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện T để mua bán ma túy.

Đối với tiền mua bán ma túy B khai: Khi nào Anh nhắn tin gửi số tài khoản ngân hàng cho B thì B chuyển khoản trả tiền mua ma túy cho Anh (nhưng A chưa nhắn tin gửi số tài khoản ngân hàng của Anh cho B).

Liên hệ mua ma túy xong, B gọi messenger đến tài khoản FB có tên “JeangPhax” của Lê Văn G bảo G đến đón Trần Hồng S rồi cùng S đi lấy ma túy đem đến quán karaoke ở xã M, huyện T để sử dụng, G đồng ý. Sau đó B gửi link FB “PHÙNG NGỌC ANH” cho G liên hệ để mua ma túy. Bằng tiếp tục gọi điện cho S nói: “Tý anh G đến đón rồi cùng anh G đi lấy ma túy, xuống xã M để hát karaoke”, S đồng ý.

Sau khi liên hệ xong, Bằng xóa hết các cuộc gọi qua M2 cho A và G; xóa hết các cuộc gọi điện thoại cho S; hủy bạn bè FB rồi xóa luôn tài khoản FB “PHÙNG NGỌC ANH”.

Tiếp đó, G sử dụng tài khoản “JeangPhax” gọi M2 đến tài khoản “PHÙNG NGỌC ANH”, giới thiệu là bạn của B hỏi chỗ lấy ma túy thì người sử dụng tài khoản FB trên hẹn G đến chân cột mốc cầu Đ, thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, T để lấy ma túy.

Khi G điều khiển xe ô tô BKS 88A - 708.14 chở S đến khu vực gần cầu Đ, G bảo S “xuống chân cột mốc cầu Đ mà lấy ma túy anh B mua”, S đồng ý. Theo chỉ dẫn của G, S đến chân cột mốc cầu Đ thì tìm thấy 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon chứa 02 viên ma túy kẹo và 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng là ma túy ketamine, cầm lên xe ô tô cùng G đến quán K1 ở xã M, T thì gặp B và 04 người bạn nêu trên đang đứng chờ ở gần đó. S rủ cả bọn đi vào quán karaoke Anh E do anh Diệp Trung H4 làm chủ, anh Hoàng Văn H2 làm quản lý để hát karaoke thì tất cả đồng ý.

Khoảng 23 giờ cùng ngày 27/9/2024, tại quầy lễ tân B gặp Hoàng Văn H2 hỏi thuê 01 phòng để hát và có nhân viên phục vụ, H2 đồng ý sắp xếp cho nhóm của B vào hát tại phòng Vip 2 rồi điều 04 nhân viên nữ là Bùi Bảo N, Lý Thị X, Trần Thị M, Nguyễn Kim T vào phục vụ rót bia, bấm bài hát.

Khi cả nhóm hát được một lúc thì D cùng 02 người bạn của D ra về trước. Tại phòng Vip2 chỉ có 06 người gồm: Bằng, Chiều, G, S, M, X, thì S nói “Đồ mang xuống đây rồi anh em chơi chứ” ý S nói là có ma túy đây rồi cùng nhau sử dụng. Sau đó, S lấy 02 viên ma túy kẹo ra, bẻ đôi 01 viên, sử dụng một nửa, phần còn lại S đưa cho B, B đưa lại cho G sử dụng; 01 viên còn lại B sử dụng tất (có 03 người sử dụng ma túy kẹo là B, G, S; còn Chiều, M, X không sử dụng ma túy kẹo).

Do phòng Vip 2 không có đèn nháy nên S đi ra quầy lễ tân bảo Hoàng Văn H2 đổi sang phòng hát Vip 1 và bảo H2 điều thêm nhân viên vào phục vụ rót bia, bấm bài, H2 đồng ý. S quay vào phòng Vip 2 nói “những ai chơi đồ sang phòng Vip 1” (ý của S được hiểu là: Những ai sử dụng ma túy thì đi sang phòng Vip 1). Bằng, G, M, C hiểu ý của S rồi cùng nhau đi sang phòng Vip 1 để hát và sử dụng ma túy.

Do M biết việc di chuyển sang phòng Vip 1 là để sử dụng ma túy Ketamine, nên M chủ động tự ý cầm theo 01 đĩa sứ có sẵn ở phòng Vip 2 mang vào phòng Vip 1 mục đích là để xào ma túy Ketaminne.

Sau đó, Hoàng Văn H2 điều thêm 02 nhân viên là Đặng Thị T1 và Bùi Huyền T2 vào phòng Vip 1 để phục vụ khách hát. Tại phòng V, Lý Thị X bật điện phòng, máy hát rồi đi ra ngoài. Sau đó S lấy 01 gói ma túy ketamine từ trong người ra để trên mặt bàn, còn M chủ động tự cầm 01 đĩa sứ đưa cho S để đựng, xào ma túy Ketaminne cho những người có mặt trong phòng Vip 1 sử dụng. S cầm đĩa sứ do M đưa rồi để xuống mặt bàn. Tiếp đó, B dùng bật lửa của S đem theo đốt nóng đáy đĩa sứ rồi đưa cho S, S đổ gói ma túy Ketaminne vào đĩa rồi lấy thẻ ATM của S xào (trộn) ma túy, kẻ thành các đường chỉ và lấy 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng, cuốn thành ống hút. Sau đó, lần lượt B, G, S, anh C hít ma túy Ketaminne vào cơ thể. Tiếp đó, S bê đĩa ma túy mời thì T1, T2 đồng ý hít ma túy K vào cơ thể.

Bằng, G, S, anh C, chị T2, chị T1 (06 người) cùng nhau sử dụng ma túy Ketaminne đến khoảng 07 giờ ngày 28/9/2024 thì bị Công an huyện T bắt quả tang, lập biên bản sự việc đối với 09 người gồm: Diệp Văn B, Trần Hồng S, Lê Văn G, Lương Văn C, Đặng Thị T1, Bùi Huyền T2, Nguyễn Kim T, Bùi Bảo N, Hoàng Văn H2, thu giữ vật chứng theo quy định.

Trần Thị M, chị Bùi Bảo N, chị Lý Thị X, chị Nguyễn Kim T không sử dụng ma túy.

Hoàng Văn H2 là quản lý quán K1 không sử dụng ma túy, không biết các đối tượng thuê phòng hát để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

1. Về thu giữ đồ vật, tài sản, vật chứng của vụ án:

  • - Thu giữ trên mặt bàn kính trong phòng Vip 1: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên mặt đĩa sứ có bám dính chất bột màu trắng; 01 chiếc thẻ cứng màu xanh có dòng chữ V1 ghi hàng số 9704151546915316 ghi tên TRAN HONG SON; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng được cố định bằng 03 đầu lọc thuốc lá, niêm phong ký hiệu M1;
  • - 01 bật lửa ga màu vàng đã cũ, đã qua sử dụng;
  • - Tạm giữ của Diệp Văn B: 01 điện thoại di dộng (ĐTDĐ), nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, đen, đã qua sử dụng, có gắn 01 thẻ sim; 01 ĐTDĐ Iphone 7 Plus màu vàng, đã qua sử dụng, có gắn 01 thẻ sim.
  • - Tạm giữ của Trần Hồng S: 01 ĐTDĐ, nhãn hiệu Iphone 7 màu vàng, đã qua sử dụng, có gắn 01 thẻ sim;
  • - Tạm giữ của Lương Văn C: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, đã qua sử dụng, có gắn 01 thẻ sim; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, đã qua sử dụng, có gắn 01 thẻ sim;
  • - Tạm giữ của Lê Văn G: 01 ĐTDĐ nhãn Huawei màu xanh, đã qua sử dụng, có 01 thẻ sim;
  • - Tạm giữ của Nguyễn Kim T: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu trắng, đã qua sử dụng, có 01 thẻ sim;
  • - Tạm giữ của Đặng Thị T1: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 màu trắng, đã qua sử dụng, có 01 thẻ sim;
  • Tạm giữ của Bùi Huyền T2: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng, có 01 thẻ sim;
  • - Tạm giữ của Hoàng Văn H2: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, đã qua sử dụng, có 01 thẻ sim;
  • - Tạm giữ của Lê Văn G: 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Acent màu đỏ BKS 88A - 708.14.
  • - Thu mẫu nước tiểu của 10 đối tượng gồm: Diệp Văn B, Trần Hồng S, Lê Văn G, Lương Văn C, Trần Thị M, Đặng Thị T1, Bùi Huyền T2, Nguyễn Kim T, Bùi Bảo N, Hoàng Văn H2, để giám định ma túy.

Kết quả khi test nhanh:

  • + Trần Hồng S, Diệp Văn B, Lê Văn G, Bùi Huyền T2, Lương Văn C, Đặng Thị T1 (06 người): Dương tính với ma túy.
  • + Trần Thị M, Nguyễn Kim T, Bùi Bảo N, Hoàng Văn H2 (04 người): Âm tính với ma túy.

2. Kết quả giám định ma túy:

  • - Ngày 01/10/2024, Phòng K2 Công an tỉnh V (Phòng KTHS), kết luận: Tìm thấy chất ma túy Ketamine bám dính trong: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ của mẫu ký hiệu M1 (BL 211).

3. Kết luận giám định nước tiểu:

  • 3.1. Diệp Văn B, Lê văn G, Trần Hồng S (03 người): Dương tính với Ketaminne, MDMA (BL 212-214).
  • 3.2. Anh Lương Văn C, chị Nguyễn Kim T, chị Bùi Huyền T2, chị Đặng Thị T1, anh Hoàng Văn H2, chị Bùi Bảo N, Trần Thị M (07 người): Âm tính với ma túy (BL 215-221).
  • - Phòng K2 giải thích lý do mẫu nước tiểu của chị Bùi Huyền T2, anh Lương Văn C, chị Đặng Thị T1, khi test nhanh cho kết quả dương tính với Ketamine nhưng khi giám định lại âm tính, như sau:
  • + Việc thử nhanh một số chất ma túy trong mẫu nước tiểu bằng que thử chỉ mang tính định hướng và tham khảo, sau đó phải dùng các phương pháp khác để đối chiếu, phân tích mới có kết quả chính xác.
  • + Trường hợp đối tượng có sử dụng chất ma túy khi vào cơ thể người thường hấp thụ qua dạ dày, bàng quang, ruột, đi qua hàng rào máu - não để gây tác dụng. Tùy thuộc vào thể trạng từng người mà có mức độ hấp thụ theo thời gian khác nhau, do đó mức độ phát hiện chất ma túy trong mẫu nước tiểu của từng người cũng khác nhau.
  • + Trong trường hợp đối tượng có sử dụng chất ma túy vào hồi 01h ngày 28/9/2024 (tại quán K1) bằng hình thức uống và hít qua miệng trong nhóm 10 mẫu nước tiểu, qua giám định xác định 3/10 mẫu dương tính với chất ma túy MDMA và Ketamine và 7/10 mẫu âm tính là khách quan, chính xác và khoa học (BL 217A).

Cơ quan điều tra đã thông báo các Kết luận nêu trên, S, B, G, M, anh C, chị T1, chị T2, chị T, chị N và anh H2, nhất trí nội dung kết luận giám định không thắc mắc gì.

4. Kết luận giám định kỹ thuật số điện tử:

  • - Ngày 11/10/2024 Cơ quan điều tra Quyết định trưng cầu giám định 03 chiếc ĐTDĐ đã thu giữ của Lê Văn G, Trần Hồng S, Diệp Văn B, yêu cầu khôi phục, trích xuất (in thành bản ảnh) lịch sử cuộc gọi, tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo, facebook.
  • - Ngày 21/11/2024 Phòng KTHS, kết luận: Không tìm thấy dữ liệu theo yêu cầu giám định từ điện thoại của Lê Văn G, Trần Hồng S, Diệp Văn B (không khôi phục, trích xuất được lịch sử cuộc gọi, tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo, facebook từ mẫu giám định).

* Đối với đối tượng bán ma túy cho Diệp Văn B:

  • - Diệp Văn B khai người bán ma túy là do bạn bè xã hội giới thiệu tên là Phùng Ngọc A, sinh năm 1999 ở thị trấn Đ, T, sử dụng mesenger “PHUNG NGOC ANH”, từ trước đến nay Bằng không quen biết, chưa gặp mặt người này lần nào, nên không biết đặc điểm nhận dạng. Sau khi liên hệ với tài khoản trên B đã hủy kết bạn, xóa thông tin, xóa tài khoản FB người này.
  • - Lê Văn G khai không biết nhân thân, lai lịch người này, liên hệ với người này qua mesenger do B gửi, khi đi lấy ma túy G ngồi trên xe không trực tiếp xuống lấy, không gặp nên không biết đặc điểm người này. Sau khi liên hệ với tài khoản trên G đã hủy kết bạn, xóa thông tin, xóa tài khoản FB người này.
  • - Trần Hồng S không gặp mặt trực tiếp nên không biết đặc điểm người bán ma túy.
  • - Cơ quan điều tra kiểm tra ĐTDĐ, đăng nhập vào messenger của B và G xác định không có cuộc gọi, tin nhắn nào đến tài khoản trên. Tài khoản trên không có trong danh sách bạn bè của B và G, nên không xác định được số ĐTDĐ dùng để đăng ký tài khoản facebook “PHUNG NGOC ANH”.
  • - Cơ quan điều tra xác minh trên địa bàn thị trấn Đ, huyện T không có người có tên, tuổi như B, G khai.

Ngoài lời khai của B, G, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định nhân thân, lai lịch của đối tượng tên “PHUNG NGOC ANH”, để triệu tập, đấu tranh làm rõ hành vi bán ma túy nêu trên, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị M phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024: Xử phạt bị cáo Trần Thị M 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/4/2025, bị cáo Trần Thị M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị M, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt, giảm hình phạt cho bị cáo M, xử phạt Trần Thị M từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo M đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị M làm trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Trần Thị M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp nhau, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Ngày 27/9/2024, tại phòng V quán K1 tại xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Diệp Văn B đã rủ rê, chuẩn bị ma túy cho 6 đối tượng gồm: Diệp Văn B, Lê Văn G, Trần Hồng S, Lương Văn C, Bùi Huyền T2, Đặng Thị T1 (16 tuổi 02 tháng 07 ngày) cùng sử dụng. Trần Thị M là nhân viên của quán đã có hành vi chuẩn bị 01 đĩa sứ để xào ma túy Ketaminne, giúp cho các đối tượng trên sử dụng ma túy.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là mối hiểm hoạ cho mỗi gia đình và toàn xã hội, làm huỷ hoại sức khoẻ, suy giảm giống nòi, gây suy thoái đạo đức, lối sống, nhân phẩm của con người. Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật, giết người...Do vậy, cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không bị oan sai.

[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo M đóng vai trò đồng phạm thứ yếu, giản đơn. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, trình độ hiểu biết pháp luật kém nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mức án 04 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc đối với người chưa thành niên phạm tội. Mặt khác, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn nhưng lại áp dụng Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên là quy định về “Án treo” là không chính xác, cần rút kinh nghiệm.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị M, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung, tạo điều kiện giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị M; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo Trần Thị M.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024: Xử phạt bị cáo Trần Thị M 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

  1. Về án phí: Bị cáo Trần Thị M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
  2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Tam Đảo;
  • - VKSND huyện Tam Đảo;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Đảo;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; Toà hình sự, HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Thị Đoan Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-PT ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 78/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị M phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger