|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2025/HS-PT Ngày: 27 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Anh Dũng
Ông Lương Thanh Chín
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Huy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 46/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo Trần B1 và Đặng Quốc T1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Trần B1, sinh năm 1989 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 11, phường B9, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần H4 và bà Lê Thị G; Bị cáo có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Đặng Quốc T1, sinh năm 1993 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn PL, xã T2, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Sỹ K2 và bà Nguyễn Thị Ánh T3; Bị cáo có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, vắng mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Quốc T1: Ông Phạm Văn Th – Luật sư Văn phòng luật sư PN thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Ngoài ra, vụ án còn có 02 (hai) bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Bản án sơ thẩm:
Vào năm 2023, Trần B1 và Đặng Quốc T1 cùng mua thửa đất tại thôn 1, xã S, Huyện H, tỉnh Bình Thuận của ông Phạm Đức V1. Sau khi mua đất, B1 và T1 đến canh tác thì bị ông Nguyễn Văn B1 (là em ruột của vợ ông V1) cùng gia đình, nhiều lần cầm hung khí đe dọa đánh, chém, không cho T1, B1 vào khu vực đất với lý do đang tranh chấp thửa đất trên với ông V1.
Ngày 15/01/2024, B1 bàn bạc với T1 về việc thuê người để bảo vệ ông V1 cùng đi đến thửa đất, đối chứng với gia đình ông B1; trường hợp gia đình ông B1 đuổi đánh thì những người được thuê sẽ đánh trả, bảo vệ an toàn cho B1, T1, V1. T1 đồng ý, B1 gọi điện thoại cho Mai Hữu Tr, nhờ Tr thuê một số người vào Huyện H để giúp B1 giải quyết tranh chấp đất, bảo vệ B1, T1, V1, đề phòng việc gia đình ông B1 đánh. Tr đồng ý, báo giá thuê người xuống giúp B1 là 50.000.000 đồng và yêu cầu B1 chuyển khoản trước cho Tr 10.000.000 đồng. B1 đồng ý chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng VPBank của B1 số 6465676768 vào tài khoản ngân hàng MB Bank của Tr số 0862572029; số tiền còn lại sau khi xong việc sẽ chuyển. Sau đó, Tr gọi thêm Q1, N1, K1, M1 D, H1, M1 (chưa rõ nhân thân, đều trú tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận), thì tất cả đồng ý cùng tham gia, Tr nói Đào Ngọc T1 thuê 01 xe ô tô 07 chỗ để sáng ngày 16/01/2024 sẽ đi huyện H giải quyết tranh chấp đất đai thì Ngọc T1 đồng ý.
Sáng ngày 16/01/2024, Ngọc T1 thuê xe ô tô biển số 86A - 224.04, điều khiển đón cả nhóm đã tập hợp tại quán cà phê không tên của Tr tại khu phố 7, phường LD, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Tr chuẩn bị sẵn 10 cây tre tầm vông dài khoảng 1,2m (dùng làm hung khí) mang lên xe ô tô, Ngọc T1 điều khiển chở cả nhóm đi đến thị xã L, B1 đón nhóm Tr về nhà trọ B1 tại khu phố 1, phường B9, thị xã L. Tại đây, B1, T1, Tr, Phạm Đức V1 vào phòng trọ cùng bàn bạc thống nhất khi xuống vị trí tranh chấp đất để nói chuyện với gia đình ông B1, bảo đảm an toàn cho ông V1, trường hợp gia đình ông B1 đuổi đánh nhóm B1, Quốc T1, V1 thì nhóm của Tr sẽ đánh, chống trả lại gia đình ông B1, V1 ngồi nghe bàn bạc nhưng không nói gì. Sau đó, V1 lên xe ô tô 86A - 224.04 của Ngọc T1 đi cùng nhóm Tr, Quốc T1 điều khiển xe mô tô biển số 59C2 - 790.93 đi theo sau. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến vị trí đất tranh chấp tại thôn 1, xã S, huyện H thì Quốc T1, B1, Tr cùng hai thanh niên đi vào trong đám đất tháo bỏ hàng rào, xóa bỏ vết sơn do gia đình ông B1 rào, xịt sơn đánh dấu. Lúc này, ông Nguyễn Văn C2 (anh ruột ông B1) phát hiện nhóm B1, gọi điện cho ông Nguyễn Ph1 đến để cùng ngăn cản nhóm của B1. Ông Ph1 cầm theo cây sắt tròn dài khoảng 1,5m đi đến yêu cầu nhóm B1 dừng lại, đe doạ ai tháo gỡ rào sẽ đánh; còn ông C2 lấy điện thoại ra quay phim. Thấy vậy, Tr giật cây sắt trên tay ông Ph1, B1 dùng gậy ba khúc mang theo trong người đánh 01 cái vào người ông Ph1 nhưng không trúng, ông Ph1 bỏ chạy; Quốc T1 đang tháo rào thì ông C2 đến quay phim, bị T1 dùng tay đánh vào người 02 cái (không gây thương tích), cùng lúc 01 nam thanh niên (nhóm Tr) từ trong xe ô tô đi xuống cầm theo cây tre chạy đến đánh ông C2, ông C2 bỏ chạy thì Quốc T1 và hai nam thanh niên (nhóm Tr)
đuổi theo được một đoạn thì ông C2 té ngã vào hàng rào kẽm gai, tiếp tục bị Quốc T1 dùng tay đánh, cùng hai nam thanh niên (nhóm Tr) dùng cây tre đánh nhiều cái vào người gây thương tích. Ngọc T1, V1 và 02 nam thanh niên ngồi trên xe ô tô 86A - 224.04, nghe tiếng xô sát, đánh nhau nhưng không xuống xe, mà ngồi đợi chở cả nhóm ra về.
Một lúc sau, nghe có người tri hô báo Công an thì cả nhóm dừng lại; nhóm Mai Hữu Tr lên xe ô tô 86A - 224.04 do Ngọc T1 điều khiển đi phía trước, còn B1 lên xe mô tô 59C2 - 790.93 của Quốc T1 chạy theo sau cùng di chuyển ra hướng đường QL55, khi vừa ra đến đường Quốc lộ 55 thì gặp ông Nguyễn Văn B1 điều khiển xe mô tô 86B5 – 195.54 chở phía sau ông Nguyễn Văn C1.
Phát hiện nhóm B1 và Quốc T1, ông B1 quay xe lại đuổi theo (B1 có cầm theo cây rựa dài khoảng 40cm) nhưng bị Quốc T1 sử dụng nón bảo hiểm ném 01 cái vào người ông B1, rồi lao tới dùng tay đánh ông B1 và ông C1. B1 cũng sử dụng gậy ba khúc đi đến đánh ông B1 01 cái. Cùng lúc này, Tr nói Ngọc T1 dừng xe ô tô, để nhóm Tr xuống xe, giúp B1, T1; cả nhóm Tr gồm Q1, N1, K1, M1 D, H1, M1 mang theo cây tre cùng Quốc T1, B1 đuổi đánh ông B1, C1 nhiều cái vào người bị thương tích, rồi nhóm Tr lên xe Ngọc T1 chờ sẵn về lại thành phố P. Trên đường về, B1 chuyển số tiền 40.000.000 đồng cho Tr qua số tài khoản đã chuyển trước đó. Về đến thành phố P, Tr chia 8 người tham gia mỗi người số tiền 4.500.000 đồng, còn lại 14.000.000 đồng Tr để cả nhóm ăn uống và trả tiền thuê xe ô tô 86A - 224.04; số tiền của Đào Ngọc T1, Tr chuyển khoản qua số tài khoản Viettinbank số [...] mang tên Đào Ngọc T1.
Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn C1 được người nhà đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực L cấp cứu, đồng thời trình báo Công an xã S ghi nhận sự việc và thu giữ vật chứng. Sau đó, các bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1, Đào Ngọc T1, Mai Hữu Tr đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H trình diện, khai nhận hành vi của mình.
Ngày 17/01/2024, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn C1 đã có đơn yêu cầu khởi tố đối với Trần B1 cùng đồng bọn.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 207 ngày 23/02/2024 của Tr tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Bình Thuận đối với Nguyễn Văn B1 thể hiện:
- + Vết xước da nông không liên tục vùng lưng phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (16 x 02)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%.
- + Vết thương - chấn thương đốt gần ngón 5 bàn tay trái, gãy chỏm đốt gần ngón 5 bàn tay trái đã được điều trị hiện ổn định, để lại sẹo lành kích thước (1,2 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2% + 1%.
- + Các vết sưng nề bầm tím cạnh ngoài chân mày trái, 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT- BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn B1 tại thời điểm giám định là 05%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
+ Vết thương - chấn thương ngón 5 bàn tay trái và vết xước da vùng lưng phải do vật tày có cạnh gây ra.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 208 ngày 23/02/2024 của Tr tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Bình Thuận đối với Nguyễn Văn C2 thể hiện:
- + Vết thương phần mềm vùng đỉnh đã được điều trị, hiện đóng vảy màu đen, kích thước (3,5 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
- + Vết thương phần mềm vùng cung mày mắt phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo, kích thước (2x0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
- + Chấn thương 1/3 dưới cẳng tay trái, gãy 1/3 dưới xương trụ trái đã được phẫu thuật điều trị hiện ổn định, để lại vết mổ dài 8cm còn 6 mũi chỉ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%+2%.
- + Chấn thương bàn tay phải, gãy nền xương bàn ngón 5 bàn tay phải hiện đang bó bột. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%.
- + Vết xước da nâng cung mày mắt phải hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT- BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn C2 tại thời điểm giám định là 17%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
+ Các chấn thương cẳng tay trái, bàn tay phải do vật tày gây ra; Các vết thương vùng đỉnh, cung mày mắt phải do vật tày có cạnh gây ra.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 479 ngày 04/6/2024 của Tr tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Bình Thuận đối với Nguyễn Văn C1 thể hiện:
- + Đa chấn thương mặt sau cẳng tay phải, mặt sau cẳng tay trái đã được điều trị hiện không để lại dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- + Xước da mặt ngoài cánh tay phải đã được điều trị hiện không để lại dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- + Căn cứ Thông tư 22/2019/TT- BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, không đủ cơ sở xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn C1 tại thời điểm giám định.
- + Kết luận khác: Không đủ cơ sở xác định vật gây thương, chiều hướng lực tác động gây thương, cố tật.
Vật chứng vụ án gồm:
- + 01 thanh kim loại hình trụ tròn, đường kính 2,1cm, dài 117,5cm, một đầu nhọn; 01 con dao dài 40,5cm, cán gỗ dài 12cm, lưỡi sắt B1 kim loại dài 28,5cm; 10 cây tre tầm vong, mỗi cây dài 1,4 mét: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện H quản lý, chờ xử lý.
- + 01 xe mô tô biển số 86B5 – 195.54, đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn B1.
- + 01 xe ô tô biển số 86A – 224.04, thuộc sở hữu của bà Lê Thị H1, Đào Ngọc T1 thuê xe theo ngày, bà H1 không biết T1 sử dụng xe vào mục đích phạm tội nên đã trả lại cho bà Lê Thị H1.
- + 01 điện thoại Realme và 01 xe mô tô biển số 59C2 - 790.93: Qua xác M1, thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Ánh T3, Đặng Quốc T1 tự ý lấy đi, bà T3 không biết sử dụng xe vào mục đích phạm tội nên đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Ánh T3.
- + 01 điện thoại Oppo màu tím; 01 điện thoại Samsung Glaxy Z Ford 5, màu đen thuộc sở hữu của bà Đỗ Thị Ng, bà Ng không biết Trần B1 sử dụng liên hệ trong quá trình gây án nên đã trả lại cho bà Đỗ Thị Ng.
Về phần dân sự: Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn C2 và Nguyễn Văn C1 yêu cầu bồi thường tổng số tiền 100.000.000 đồng (gồm chi phí điều trị thương tích, tổn hại sức khỏe). Các bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1, Mai Hữu Tr và Đào Ngọc T1 đã bồi thường với tổng số tiền 85.000.000đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Mai Hữu Tr đồng ý bồi thường thêm số tiền 15.000.000đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần B1 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, về phần dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 27/02/2025, bị cáo Đặng Quốc T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Vì bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tích cực tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương; bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, đang nuôi cha mẹ già và con nhỏ.
Ngày 03/3/2025, bị cáo Trần B1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo Trần B1 giữ nguyên kháng cáo và xin Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt, vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang phải nuôi con nhỏ.
- - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử phạt bị cáo Trần B1 03 (ba) năm tù, bị cáo Đặng Quốc T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và vai trò của các bị cáo trong đồng phạm. Các bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì mới làm căn cứ để giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Quốc T1 và Luật sư bào chữa cho bị cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt đối với bị cáo Đặng Quốc T1 và Luật sư bào chữa cho bị cáo là phù hợp quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trần B1 khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, xuất phát từ việc tranh chấp đất đai, các bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1 đã thuê Mai Hữu Tr cùng một nhóm thanh niên, đi trên xe ô tô biển số 86A – 224.04 do Đào Ngọc T1 điều khiển từ thành phố P đến khu vực đất tranh chấp và ngã ba đường đất giao nhau với đường Quốc lộ 55 thuộc thôn 1, xã S, Huyện H, tỉnh Bình Thuận, dùng cây tre tầm vông dài 1,4m đánh gây thương cho ông Nguyễn Văn C2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17% (theo Kết luận giám định số 208 ngày 23/02/2024 của Tr tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Bình Thuận) và ông Nguyễn Văn B1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 06% (theo Kết luận giám định số 207 ngày 23/02/2024 của Tr tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Bình Thuận).
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo đã có hành vi thuê người và cùng trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho các bị hại như trên. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Trần B1 03 (ba) năm tù, bị cáo Đặng Quốc T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù
về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm; đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và lý do các bị cáo trình bày để xin giảm nhẹ hình phạt đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng cho các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết gì mới để làm căn cứ cho Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo, nên Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo là phù hợp.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[5] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H về phần hình phạt đối với các bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1.
Tuyên bố: Các bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần B1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về án phí phúc thẩm: Buộc mỗi bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1 phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/5/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Anh Dũng |
Nguyễn Hồng Thái |
|
Lương Thanh Chín |
Bản án số 78/2025/HS-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 78/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Trần B1, Đặng Quốc T1 bị tuyên bố phạm tội “Cố ý gây thương tích”
