Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 78/2025/HS-PT

Ngày: 23 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương
  • - Các Thẩm phán:
    1. Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
    2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo Lê Văn C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

* Bị cáo có kháng cáo: Lê Văn C, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh N (đã chết) và bà Bùi Thị L; Vợ: Trần Thị H; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2006; tiền sự: Không; tiền án: Không;

Nhân thân:

  • - Năm 2010 Chúc có hành vi đánh bạc bị Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là 400.000 đồng. Chấp hành xong ngày 15/3/2010.
  • - Năm 2011 Chúc có hành vi đánh bạc bị Công an huyện K xử phạt 2.000.000 đồng. Chấp hành xong ngày 05/5/2011.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 01/01/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 23/12/2024, Lê Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 17B7-023.83 đi từ nhà lên khu vực cánh đồng thôn N, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, C gặp hỏi và mua được của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ 02 gói ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,2046 gam với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất vào túi áo khoác cạnh sườn phải đang mặc rồi đi về nhà tìm nơi sử dụng. Khi về đến khu vực thôn T, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình thì bị công an huyện K phát hiện, yêu cầu kiểm tra. Chúc tự nguyện lấy tại túi áo khoác cạnh sườn bên phải đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt miệng có nẹp cài viền màu đỏ, bên trong túi này có 02 gói ma túy, bên ngoài hai gói này đều gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều có chất bột màu trắng, dạng cục. Chúc khai đây là ma túy, loại Heroine, C mua về sử dụng cho bản thân. Công an huyện K tiến hành kiểm tra xe môtô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 17B7-023.83 do C điều khiển không phát hiện quản lý gì. Công an huyện K tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Vật chứng của vụ án: Công an huyện K đã lập biên bản quản lý và niêm phong vật chứng của vụ án: 01 túi nilon trong suốt miệng có nẹp cài viền màu đỏ, bên trong túi này có 02 gói ma túy, bên ngoài hai gói này đều gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều có chất bột màu trắng, dạng cục và quản lý 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 17B7-02383, C sử dụng đi mua ma túy vào ngày 23/12/2024.

Bản kết luận giám định số 1913/KL- KTHS ngày 27/12/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,2046 gam.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/12/2024.

Ngoài ra, toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Văn C kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình

sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Văn C, giảm 03 tháng tù cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét, chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Xét kháng cáo của bị cáo:
    1. [2.1] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 23/12/2024, tại khu vực trục đường thôn T, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình. Lê Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 0,2046 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân, bị Công an huyện K, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
    2. [2.2] Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và hoàn toàn hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân. Do đó cấp sơ thẩm áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là phù hợp. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã xuất trình các tài liệu, chứng cứ gồm: Bố đẻ là Lê Minh N đã tham gia kháng chiến chống Mỹ, bố vợ là Trần Văn B là thương binh 41%. Bản thân bị cáo bị khuyết tật dạng vận động, mức độ khuyết tật nặng theo giấy xác nhận khuyết tật đề ngày 24/11/2017 của UBND xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy giữ nguyên hình phạt tù nhưng giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
  3. [3] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Lê Văn C được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. [4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357, điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Văn C, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đối với bị cáo Lê Văn C. Cụ thể:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.

II. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Toà án và VKS huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 78/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger