Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐẤT

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Bản án số: 78/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24 - 6 - 2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị N
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá L
  • Bà Nguyễn Thị T
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn L - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 10/3/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/6/2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phước Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A, tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước Đ trình bày:

Đầu năm 2017, tôi và ông Nguyễn Văn C quen biết nhau. Sau một thời gian tìm hiểu, hai bên phát sinh tình cảm và muốn gắn bó lâu dài với nhau nên đến đầu năm 2018 chúng tôi đã đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 21/3/2018. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc.

Sau khi kết hôn thì chúng tôi tổ chức đám cưới rồi về sống chung với nhau. Thời gian đầu chúng tôi chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông C dính vào nhiều tệ nạn xã hội nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, dần dần tình cảm dành cho nhau không còn và không muốn tiếp tục chung sống với nhau. Do đó từ đầu năm 2024 đến nay chúng tôi đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.

Nay nhận thấy tình cảm dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề về sau:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
  • + Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức Q, sinh ngày 14/5/2019 và cháu Nguyễn Ngọc Hân D, sinh ngày 17/01/2022. Sau khi ly hôn thì tôi mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu Q và cháu D. Trước đây tôi yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.500.000 đồng/tháng/con nhưng nay tôi xin rút yêu cầu này và không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • + Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Văn C vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chỉ rút phần yêu cầu cấp dưỡng. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và không ai cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị Phước Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn C nên xác định đây là “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Văn C sinh sống tại tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

2 Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn C đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

3 Xét đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phước Đ, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Phước Đ và ông Nguyễn Văn C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 21/3/2018. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Bà Đ xác nhận thời gian đầu hai người chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và do ông C dính vào nhiều tệ nạn xã hội nên khiến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, dần dần tình cảm dành cho nhau không còn nên hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay và không còn quan tâm tới nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo hoà giải, quyết định xét xử...vv cho ông C nhưng ông C không lên Toà làm việc và cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà Đ. Vì vậy, xác định mâu thuẫn giữa bà Đ và ông C là trầm trọng, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ đối với ông C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung:

Bà Đ xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thì bà Đ và ông C có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức Q, sinh ngày 14/5/2019 và cháu Nguyễn Ngọc Hân D, sinh ngày 17/01/2022. Sau khi ly hôn thì bà Đ mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Ban đầu bà Đ yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.500.000 đồng/tháng/con nhưng ngày 16/5/2025 bà Đ có đơn xin rút yêu cầu này và không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, hiện nay cháu Q và cháu D đang sống cùng bà Đ nên để bảo đảm cho sự phát triển ổn định của các cháu, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống thì Hội đồng xét xử giao cháu Q và cháu D cho bà Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Đ không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu cấp dưỡng mà bà Đ đã rút.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung:

Do bà Đ không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà Đ phải chịu án phí theo quy định. Ông C không phải chịu.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phước Đ về việc “Ly hôn” đối với ông Nguyễn Văn C.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phước Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
  • - Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Đức Q, sinh ngày 14/5/2019 và cháu Nguyễn Ngọc Hân D, sinh ngày 17/01/2022 cho bà Nguyễn Thị Phước Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành. Ông Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phước Đ về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.500.000 đồng/tháng/con cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Bà Đ được quyền khởi kiện lại vụ án khác để yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu theo quy định.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Phước Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005449 ngày 07/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà Đ đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/6/2025) lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với ông Nguyễn Văn C thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Long Đất;
  • - CCTHADS huyện Long Đất;
  • - UBND xã Phước Hưng, huyện Long Đất, tỉnh BR-VT;
  • (GCNKH số 47 ngày 21/3/2018);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 78/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Phước Đ yêu cầu ly hôn Nguyễn Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger