|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19-3-2025 Về việc Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tuấn. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Phan Thanh Minh. |
| Bà Nguyễn Thị Nở. | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Vũ Mai Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 1245/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Viên Tú C, sinh năm 1988; địa chỉ: Số N đường L, Phường M, Quận M1, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyen D P, sinh năm 1979, quốc tịch: Hoa Kỳ; địa chỉ: Hoa Kỳ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Viên Tú C trình bày: Bà và ông Nguyen D P quen biết nhau từ năm 2016 và đã tự nguyên đăng ký kết hôn vào năm 2017 theo Giấy chứng nhận kết hôn số B, do Ủy ban nhân dân Quận M1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06 tháng 10 năm 2017. Sau khi kết hôn, thời gian đầu bà và ông Nguyen D P chung sống hạnh phúc, ông Nguyen D P thường xuyên về Mỹ và vẫn sang Việt Nam chung sống cùng bà. Sau đó, giữa hai người phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về văn hóa, quan điểm sống và tính cách không còn hợp nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ đầu năm 2021 cho đến nay, bà và ông Nguyen D P đã không còn chung sống, không còn quan
tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Nguyen D P.
Về con chung: Bà và ông Nguyen D P không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Giữa bà và ông Nguyen D P không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản.
Đối với bị đơn ông Nguyen D P: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai thông qua thủ tục ủy thác tư pháp mà vẫn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Để đảm bảo việc giải quyết vụ án theo đúng thời hạn luật định và bảo đảm quyền lợi của đương sự khác, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
[2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm có nêu: Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm, đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định pháp luật về tố tụng dân sự; quan hệ tranh chấp của vụ án đã được xác định đúng, chứng cứ được thu thập hợp lệ; vụ án có yếu tố nước ngoài Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền; thủ tục ủy thác tư pháp đã được tiến hành hợp lệ. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa đã có văn bản trình bày ý kiến giao nộp cho Tòa án và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án giải quyết vụ án theo luật định. Đề xuất về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho ly hôn. Về con chung và nợ chung nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu giải quyết vấn đề về tài sản nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, giấy chứng nhận kết hôn; căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án về ly hôn. Bị đơn trong vụ án là ông Nguyen D P hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ; nguyên đơn bà Viên Tú C cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt thông báo về thời gian và địa điểm mở phiên tòa cho bị đơn thông qua thủ tục ủy thác tư pháp nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Xét, yêu cầu và ý kiến của nguyên đơn đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của các bên đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy
định tại Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Điểm a Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; Giấy chứng nhận kết hôn số B, do Ủy ban nhân dân Quận M1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06 tháng 10 năm 2017 có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Viên Tú C và ông Nguyen D P là hợp pháp.
Cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ, nguyên đơn bà Viên Tú C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Nguyen D P.
Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa nguyên đơn và bị đơn đã không còn chung sống trong khoảng thời gian dài, khoảng cách về địa lý là trở ngại lớn dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Viên Tú C được ly hôn ông Nguyen D P như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[3] Về con chung: Nguyên đơn trình bày giữa bà và ông Nguyen D P không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Nguyên đơn trình bày giữa bà và ông Nguyen D P không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm; lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Điểm a Khoản 5 Điều 477, Khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Điều 56, Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Áp dụng Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
- - Áp dụng Luật Thi hành án dân sự.
I. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Viên Tú C:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Viên Tú C được ly hôn với ông Nguyen D P.
Giấy chứng nhận kết hôn số B, do Uỷ ban nhân dân Quận M1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06 tháng 10 năm 2017 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Nguyên đơn trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Nguyên đơn trình bày giữa vợ chồng không có nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu giải quyết phân chia tài sản chung nên Tòa án không xem xét.
II. Án phí dân sự sơ thẩm; lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:
Nguyên đơn bà Viên Tú C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp theo biên lai thu số K ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Viên Tú C phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp và chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
III. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Viên Tú C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, bị đơn ông Nguyen D P có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng, thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |
4
Bản án số 78/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 78/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Viên Tú C trình bày: Bà và ông Nguyen D P quen biết nhau từ năm 2016 và đã tự nguyên đăng ký kết hôn, Từ đầu năm 2021 cho đến nay, bà và ông Nguyen D P đã không còn chung sống, không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Nguyen D P.
