Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 18

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/11/2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
  2. Bà Nguyễn Kim Lý.

– Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh.

– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 335/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 333/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: Tổ A, khu phố L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Vũ Duy T, sinh năm 1977; địa chỉ thường trú: Tổ A, khu phố L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 20/8/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:

Bà Phạm Thị D và ông Vũ Duy T sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) vào năm 2023 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 92 ngày 15/12/2023. Hôn nhân giữa hai người là tự nguyện. Quá trình chung sống đến khoảng đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn bà D nhận thấy tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Vì thế, bà D và ông T đã làm thủ tục ly hôn và đã ly hôn theo Bản án số 17/2023/HNGĐ-ST ngày 01/3/2023. Sau khi ly hôn, vì thương con nên bà D và ông T tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn lại vào ngày 15/12/2023. Tuy nhiên, đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, ông T thường xuyên rượu chè, đập phá đồ đạc, không lo làm ăn. Hiện tại, không ai quan tâm chăm sóc nhau. Mặc dù, bà D và ông T còn sống chung nhà và nhưng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Do đó, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà Phạm Thị D và ông Vũ Duy T có 03 người con chung tên: Vũ Duy D1, sinh ngày 20/3/2000; Vũ Duy T1, sinh ngày 25/3/2002 và Vũ Duy P, sinh ngày 18/02/2006. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị D không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Vũ Duy T:

Ông T thống nhất với lời trình bày của bà D về thời gian kết hôn, con chung, nợ chung và tài sản chung cũng như mâu thuẫn vợ chồng. Ông T đồng ý ly hôn với bà D nhưng yêu cầu bà D phải giải quyết xong tài sản. Con chung đã trưởng thành. Tài sản chung, nợ chung tự thỏa thuận.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà.

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

- Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Các đương sự tranh chấp ly hôn, bị đơn có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại: Tổ A, khu phố L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) vào năm 2023 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 92 ngày 15/12/2023. Như vậy, hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.

Bà D trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã. Gia đình hai bên nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp, hôn nhân không còn hạnh phúc. Mặc dù, bà D và ông T còn sống chung nhà và nhưng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay.

Xét thấy, để có căn cứ xác định lời trình bày của bà D về trình trạng mâu thuẫn hôn nhân vợ chồng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú và sinh sống của bà D và ông T, về tình trạng mâu thuẫn hôn nhân vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không rõ, vì khi xảy ra mâu thuẫn cả hai không báo địa phương để tổ chức hòa giải. Tòa án đã tiến hành triệu tập ông T để làm rõ lời trình bày của bà D và tổ chức hòa giải đoàn tụ gia đình, ông T cũng xác định vợ chồng có xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm và đồng ý ly hôn với bà D.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị D và ông Vũ Duy T có 03 người con chung tên: Vũ Duy D1, sinh ngày 20/3/2000; Vũ Duy T1, sinh ngày 25/3/2002 và Vũ Duy P, sinh ngày 18/02/2006. Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T yêu cầu tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Trường hợp ông T có yêu cầu giải quyết về tài sản chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Từ những phân tích như trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị D đối với bị đơn ông Vũ Duy T về việc: “Ly hôn”.

- Về hôn nhân: Bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Vũ Duy T.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 92, do Ủy ban nhân dân xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 15/12/2023 cho bà Phạm Thị D và ông Vũ Duy T không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Bà Phạm Thị D và ông Vũ Duy T có 03 người con chung tên: Vũ Duy D1, sinh ngày 20/3/2000; Vũ Duy T1, sinh ngày 25/3/2002 và Vũ Duy P, sinh ngày 18/02/2006. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Phạm Thị D phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/25E số 0011829 ngày 28/8/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - UBND phường Tây Nam, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 78/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger