|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 06 -2024
Vv: Tranh chấp Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Viên và bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/6/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 24/04/2025 về việc Tranh chấp Ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/5/2024. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng N, sinh ngày 15/03/1991.
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn Q, huyện Q, Thành phố Hà Nội – Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Tạ Đình H, sinh ngày 4/06/1990 - Có mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn Q, huyện Q, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ngày 02/04/2025, lời khai của nguyên đơn chị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng N và anh Tạ Đình H tìm hiểu tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Q, huyện Q, thành phố Hà Nội ngày 15/12/2011. Sau khi kết hôn thời gian khoảng 5 năm vợ chồng sống hạnh phúc sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do quan điểm sống không hòa thuận, thường xuyên cãi vã nhau, anh H còn ngược đãi nên chị N phải bỏ đi làm ăn xa sau đó chị về để vợ chồng đoàn tụ nhưng vẫn không thay đổi được tình cảm vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và từ năm 2019 đến nay vợ chồng sống Ly thân. Vậy chị N làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai xem xét giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Tạ Đình H.
Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là cháu: Tạ Đình Mạnh Đ, sinh ngày: 07/03/2012 và cháu Tạ Thị Tố U, sinh ngày 22/05/2016. Khi ly hôn chị N xin được nuôi cháu U, anh H nuôi cháu Đ đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức, công nợ: Trong quá trình chung sống, chị N và anh H không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị N sẽ chịu toàn bộ theo quy định.
Bị đơn anh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Tạ Đình H và chị Trần Thị Hồng N tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Q, huyện Q, thành phố Hà Nội ngày 15/12/2011. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống bình thường đến năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chị N đi lao động ở Nhật Bản và có cặp bồ với người khác sau đó dẫn đến tình cảm vợ chồng nhưng anh H muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị N bỏ đi không cho anh H biết địa chỉ, anh H có nhắn tin cho chị N nhưng chị N không trả lời. Nay chị N có đơn xin ly hôn anh, anh H đồng ý Ly hôn với chị N.
Về con chung: Anh H và chị N có 02 con chung là cháu: Tạ Đình Mạnh Đ, sinh ngày 07/03/2012 và cháu Tạ Thị Tố U, sinh ngày 22/05/2016. Hiện tại hai con đang ở với anh H. Khi ly hôn anh H xin được nuôi hai con đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh H không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức, công nợ: Trong quá trình chung sống, anh H và chị N không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu: Về tố tụng đại diện viện kiểm sát thấy ra sau khi thụ lý hồ sơ vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các bước tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng. Tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn có mặt và chấp hành đã chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn có mặt theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu xin ly hôn là có cơ sở chấp nhận. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cho chị N được ly hôn anh H; Về con chung: Chị N và anh H có hai con chung là Tạ Đình Mạnh Đ, sinh ngày 07/03/2012 và cháu Tạ Thị Tố U, sinh ngày 22/05/2016. Hiện tại hai con đang ở với anh H. Khi ly hôn theo nguyện vọng của hai con xin được ở với anh H và anh H cũng xin nuôi hai con đến khi trưởng thành hơn nữa chị N hiện tại đang đi làm ăn xa, không có nơi ở, công việc ổn định, để đảm bảo quyền lợi của hai con theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 giao cho anh H nuôi dưỡng hai con đến khi trưởng thành; Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện không đề nghị xem xét giải quyết phần cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị N. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có quyết định khác; Về tài sản chung, công sức, công nợ chung chị N và anh H không có yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét giải quyết; Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai thụ lý quan hệ Tranh chấp phát sinh là tranh chấp Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền theo lãnh thổ Toà án nhân dân huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết nơi bị đơn cư trú ở thị trấn Q, huyện Q, thành phố Hà Nội là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1, Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn; thông báo mở phiên họp, công khai chứng cứ và hoà giải đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin được ly hôn.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy: Theo các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và trình bày của nguyên đơn có đủ căn cứ xác định:
-Về hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng N và anh Tạ Đình H tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Q, huyện Q, thành phố Hà Nội ngày 15/12/2011. Sau khi kết hôn thời gian khoảng 5 năm vợ chồng sống hạnh phúc sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do quan điểm sống không hòa thuận, vợ chồng nghi ngờ nhau có quan hệ với người khác dẫn đến tình cảm vợ chồng và từ năm 2022 đến nay hai vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N. Chị Trần Thị Hồng N được ly hôn anh Tạ Đình H.
Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là cháu Tạ Đình Mạnh Đ, sinh ngày 07/03/2012 và cháu Tạ Thị Tố U, sinh ngày 22/05/2016. Hiện tại hai con đang ở với anh H. Khi ly hôn chị N xin nuôi cháu U, anh H xin được nuôi hai con đến khi trưởng thành.
Hội đồng xét xử xét yêu cầu nuôi con của chị N và anh H thì thấy: Chị N và anh H có 02 con chung là cháu Tạ Đình Mạnh Đ, sinh ngày 07/03/2012 và cháu Tạ Thị Tố U, sinh ngày 22/05/2016. Quá trình thu thập chứng cứ quan điểm của hai con trình bày nếu bố mẹ ly hôn thì cháu Đ và cháu U xin ở với bố H. Hiện tại chị N đang đi làm ăn xa, nơi ở không ổn định, còn anh H thì có công việc, nhà ở ổn định. Để đảm bảo quyền lợi và cuộc sống của con sau ly hôn không bị đảo lộn việc học hành của các con nên giao hai con cho anh H nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Do đó chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của anh H. Giao cho anh H tiếp tục được trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con đến khi trưởng thành hoặc đến khi có thay đổi khác.
Chị N có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, con chung không ai được cản trở.
+Về cấp dưỡng nuôi con. Anh H không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị N cho đến khi có Quyết định khác.
[3] -Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị N và anh H khẳng định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc chị N phải nộp án phí Ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng;
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 1 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 69; Điều 81 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ địểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Hồng N. Chị Trần Thị Hồng N được ly hôn anh Tạ Đình H.
1.1 -Về con chung: Giao cho anh Tạ Đình H được trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Tạ Đình Mạnh Đ, sinh ngày 07/03/2012 và cháu Tạ Thị Tố U, sinh ngày 22/05/2016 đến khi trưởng thành ( đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có Quyết định khác.
Chị N có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, con chung không ai được cản trở.
1.2-Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị N cho đến khi có Quyết định khác.
2- Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị N và anh H không có nên không yêu cầu giải quyết.
3 -Về án phí: Chị Trần Thị Hồng N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị N đã nộp đủ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0020446 ngày 24/04/2025 nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai.
4 - Bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND thị trấn.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Kiều Văn Thành |
Bản án số 78/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 78/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con sau ly hôn
