Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 09/4/2025

V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Nguyên Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa.

Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Lê Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà: Ông Phạm Như Nên – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2405/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc "Xin ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Phan Văn C, sinh năm 1984
  • Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  • Địa chỉ liên hệ: 534, Nguyễn Văn T, tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Bà Huỳnh Cẩm L, sinh năm 1983
  • Địa chỉ thường trú: 48/21/4, khu phố L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông C, bà L có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn ông Phan Văn C trình bày:

Ông Phan Văn C và bà Huỳnh Cẩm L tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên về sau cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Mặc dù cả hai cũng đã nhiều lần ngồi lại với nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho cả hai được ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Phan Ngọc N, sinh ngày 27/10/2012 và cháu Phan Anh T1, sinh ngày 02/7/2003. Khi ly hôn, Phan Ngọc N sẽ do bà Huỳnh Cẩm L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ông Phan Văn C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Đối với cháu Phan Anh T1, sinh ngày 02/7/2003 hiện đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Bị đơn – bà Huỳnh Cẩm L có đơn xin vắng mặt, không có mặt tại Toà án để làm việc, hoà giải theo giấy triệu tập, không cung cấp bản tự khai và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng quy định.

Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông C. Về con chung: Đề nghị giao cháu N cho bà L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ông C cấp dưỡng nuôi cháu N mỗi tháng 2.000.000đ. Đối với cháu T1 đã trưởng thành nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Theo ông C trình bày tài sản chung, nợ chung không có, bà L không có bản tự khai trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung, nên đề nghị đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự, nhưng nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Ông C, bà Liên kết H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
  3. [3] Ông C, bà L sau khi kết hôn chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông C trình bày do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được. Ông C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn. Tại biên bản xác minh, đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Trong quá trình chung sống giữa ông C, bà L có xảy ra mâu thuẫn hay không thì Uỷ ban nhân dân không nắm rõ, vì đương sự không gửi đơn xin hoà giải đến Uỷ ban nhân dân phường... Bà Huỳnh Cẩm L hiện đang nuôi dưỡng cháu Phan Ngọc N”. Tòa án đã nhiều lần thông báo về phiên hòa giải để tạo điều kiện hòa giải cho ông C, bà L hàn gắn đoàn tụ, nhưng bà L vắng mặt, nên không tiến hành hòa giải đoàn tụ được. Toà án đã nhiều lần làm việc nhưng ông C cương quyết xin ly hôn, cho thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng. Xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông C.
  4. [4] Về con chung: Ông C, bà L có 02 con chung là cháu Phan Ngọc N, sinh ngày 27/10/2012 và cháu Phan Anh T1, sinh ngày 02/7/2003. Xét thấy hiện nay cháu Phan Ngọc N đang do bà Huỳnh Cẩm L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Nguyện vọng của cháu N muốn ở với mẹ, nên giao cháu N cho bà L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng để đảm bảo điều kiện ổn định về mọi mặt cho cháu. Ông Phan Văn C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, nên ghi nhận.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Vì không trực tiếp nuôi con nên ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo thủ tục do pháp luật quy định.

Đối với cháu Phan Anh T1, sinh ngày 02/7/2003 hiện đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra xem xét.

  1. [5] Về tài sản chung, nợ chung: Theo ông C trình bày về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa giải quyết. Bà L không có bản tự khai trình bày về tài sản chung, nợ chung. Do đó, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
  2. [6] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Ông C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, và 300.000đ án phí cấp dưỡng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm ông C đã nộp tại biên lai số 0004173 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Ông C còn phải nộp thêm 300.000đ.
  3. [7] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 203; Điều 220, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phan Văn C và bà Huỳnh Cẩm L.
  2. 2. Về con chung: Giao cháu Phan Ngọc N, sinh ngày 27/10/2012 cho bà Huỳnh Cẩm L trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ông Phan Văn C cấp dưỡng nuôi cháu N với số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/01 tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Phan Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo thủ tục do pháp luật quy định.

Đối với cháu Phan Anh T1, sinh ngày 02/7/2003 hiện đã đủ tuổi trưởng thành, nên không đặt ra xem xét.

  1. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phan Văn C trình bày về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa giải quyết. Bà Huỳnh Cẩm L không có bản tự khai trình bày về tài sản chung, nợ chung. Do đó, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
  2. 4. Về án phí: Ông Phan Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm ông Phan Văn C đã nộp tại Biên lai số 0004173 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Ông Phan Văn C còn phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
  3. 5. Về quyền kháng cáo: Ông Phan Văn C và bà Huỳnh Cẩm L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  4. 6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

PLACEHOLDER

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - VKSND TP. BH (2)
  • - THA DS TP.BH (1)
  • - Đương sự (2)
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn (1)
  • - Lưu (6)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về xin ly hôn

  • Số bản án: 78/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cảnh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger