Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/DS-ST

Ngày: 08-4-2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Thành Dương;
  2. Ông Phạm Danh Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 352/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 52/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân L2;
  2. Địa chỉ: khu phố C, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;

    Đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn T - Chủ tịch Hội đồng quản trị;

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Giáp Thị Thu S - chức vụ: Giám đốc;

    (Xin vắng mặt).

    (Theo giấy ủy quyền số 02 ngày 25/3/2024).

  3. Bị đơn:
  4. 2.1. Ông Phạm Văn X, sinh năm 1959;

    2.2. Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1962;

    Cùng địa chỉ: Khu phố L, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 18/10/2023 Quỹ tín dụng nhân dân L2 (gọi tắt là Quỹ tín dụng) và ông Phạm Văn X, bà Nguyễn Thị Cẩm H ký hợp đồng tín dụng số 477/23BB/HĐTD, theo đó Quỹ tín dụng cho ông X, bà H vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; phương thức trả nợ: vốn, lãi trả hàng tháng, mỗi kỳ là 2.034.600 đồng; lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi quá hạn gấp 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm, điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng; mục đích vay tiêu dùng, hình thức đảm bảo tiền vay có giữ hộ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 326056, số vào sổ CH00370, diện tích 192m² do Ủy ban nhân dân thị xã G (nay là thành phố G) cấp ngày 08/11/2011 cho Phạm Văn X.

Sau khi vay ông X, bà H không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng. Như vậy, đến ngày 08/4/2025 ông X, bà H còn nợ lại Quỹ tín dụng số tiền vốn là 20.000.000 đồng và lãi theo hợp đồng là 1.903.000 đồng.

Do quyền lợi bị xâm phạm nên Quỹ tín dụng yêu cầu ông X, bà H trả tổng cộng số tiền là 21.903.000 đồng. Sau ngày 08/4/2025 nếu ông X, bà H chậm thanh toán còn phải trả thêm tiền lãi và lãi chậm trả phát sinh của hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

* Bị đơn ông Phạm Văn X và bà Nguyễn Thị Cẩm H vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú tại phường L, thành phố G nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện ông X, bà H để tranh chấp tiền nợ vay. Căn cứ vào Điều 463 Bộ luật Dân sự nên quan hệ pháp luật là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.

[3]. Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông X, bà H vắng mặt không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[4]. Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Quỹ tín dụng nhân dân L yêu cầu ông X, bà H phải trả số tiền vốn 20.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 08/4/2025 là 1.903.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi phải trả là 21.903.000 đồng.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy giao dịch vay tiền giữa Quỹ tín dụng và ông X, bà H là có thật, thể hiện vào hợp đồng tín dụng số số 477/23BB/HĐTD ngày 18/10/2023 mà hai bên đã ký kết. Theo hợp đồng hai bên đã giao kết, ông X, bà H vay số tiền là 20.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; phương thức trả nợ: vốn, lãi trả hàng tháng, mỗi kỳ là 2.034.600 đồng; lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi quá hạn gấp 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm, điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng; mục đích vay tiêu dùng, hình thức đảm bảo tiền vay có giữ hộ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 326056, số vào sổ CH00370, diện tích 192m² do Ủy ban nhân dân thị xã G (nay là thành phố G) cấp ngày 08/11/2011 cho Phạm Văn X. Tuy nhiên, sau khi vay ông X, bà H không trả nợ cho Quỹ tín dụng theo thỏa thuận. Do đó, ông X, bà H là người vi phạm nghĩa vụ phải thanh toán nợ hàng tháng theo thỏa thuận cho Quỹ tín dụng, vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự, cho nên Quỹ tín dụng khởi kiện ông X, bà H để yêu cầu trả hết số nợ vốn và lãi 21.903.000 đồng là có cơ sở.

Bị đơn ông X, bà H đã được triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nhưng ông và bà vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản đối gì đến yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tài liệu, tình tiết, văn bản mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Như vậy ông X, bà H đã thừa nhận còn nợ và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng. Việc cố tình vắng mặt là nhằm kéo dài thời gian trả nợ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Đối với 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 326056, số vào sổ CH00370, diện tích 192m² do Ủy ban nhân dân thị xã G (nay là thành phố G) cấp ngày 08/11/2011 cho Phạm Văn X, Quỹ tín dụng nhân dân L3 có ý kiến sẽ trả lại cho ông X, bà H sau khi bị đơn hoàn tất nghĩa vụ trả nợ nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân L là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

[5]. Về án phí: Ông X, bà H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6]. Về quyền kháng cáo của đương sự: Được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 92, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân L.
  2. Buộc ông Phạm Văn X và bà Nguyễn Thị Cẩm H phải có nghĩa vụ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Long Hòa tổng cộng số tiền nợ là 21.903.000 đồng.

    Kể từ ngày 09/4/2025, ông X, bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 477/23BB/HĐTD ngày 18/10/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Quỹ tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Q tín dụng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Q tín dụng cho vay.

    Quỹ tín dụng nhân dân L2 có nghĩa vụ trả lại cho ông X, bà H 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 326056, số vào sổ CH00370, diện tích 192m² do Ủy ban nhân dân thị xã G (nay là thành phố G) cấp ngày 08/11/2011 cho Phạm Văn X, sau khi bị đơn hoàn tất nghĩa vụ trả nợ.

  3. Về án phí:
    • - Buộc ông Phạm Văn X và bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 1.095.150 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • - H1 lại cho cho Q tín dụng nhân dân Long Hòa số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 506.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001138 ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh TG;
  • - VKSND TPGC;
  • - Chi cục THADS TPGC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thưa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/DS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 78/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 18/10/2023 Quỹ tín dụng nhân dân L2 (gọi tắt là Quỹ tín dụng) và ông Phạm Văn X, bà Nguyễn Thị Cẩm H ký hợp đồng tín dụng số 477/23BB/HĐTD, theo đó Quỹ tín dụng cho ông X, bà H vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; phương thức trả nợ: vốn, lãi trả hàng tháng, mỗi kỳ là 2.034.600 đồng; lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi quá hạn gấp 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm, điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng; mục đích vay tiêu dùng, hình thức đảm bảo tiền vay có giữ hộ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 326056, số vào sổ CH00370, diện tích 192m2 do Ủy ban nhân dân thị xã G (nay là thành phố G) cấp ngày 08/11/2011 cho Phạm Văn X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger