Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/DS-ST

Ngày: 10/10/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Quang Thanh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thuận
  • Ông Ngô Rạng Đông
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái - Kiểm sát viên

Trong ngày 10 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 439/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2025, quyết định tạm ngừng phiên toà số 07/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số 13/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K
    • Trụ sở: 40-42-44 P, phường R, tỉnh An Giang
    • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng giám đốc.
    • - Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Ông Lê Trung V – Chức vụ: Phó Tổng giám đốc.
    • - Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Ông Dương Trần H – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: A Đường C, khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang. (có mặt)
  2. Bị đơn: Bà Hồ Xuân Giang T, sinh năm 1984 (vắng mặt)
    • Ông Trương Văn T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Khu phố E D, đặc khu P, tỉnh An Giang
    • Đại diện theo uỷ quyền của bà T: Ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1975. Địa chỉ: I N, phường R, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Tạ Hoài S, sinh năm 1965 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
    • Bà Phù Ái N, sinh năm 1967 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
    • Bà Tạ Thị Giang C, sinh năm 1961 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 09/7/2024 và tại phiên toà, đại diện ngân hàng thương mại cổ phần K trình bày: Bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 có vay của Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh R (gọi tắt là Ngân hàng K) cụ thể như sau:

  1. Theo hợp đồng tín dụng số 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/03/2021 thoả thuận như sau:
    • Số tiền vay: 15.300.000.000 đồng (Mười lăm tỷ, ba trăm triệu đồng).
    • Mục đích sử dụng tiền vay: Nhận chuyển nhượng bất động sản.
    • Thời hạn vay: 180 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
    • Ngày giải ngân: 30/03/2021.
    • Lãi suất vay: 12%/năm được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng khế ước nhận nợ (KUNN). Kể từ tháng thứ 4 tính từ ngày giải ngân theo từng KUNN, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng 01 lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ, tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng 4,1%/năm. Lãi suất ngay khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành tại Ngân hàng K (Cùng loại hình và phương thức vay).
    • Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
    • Lãi suất lãi chậm trả lãi: 10%/năm.
    • Hình thức thanh toán: Gốc lãi trả hàng tháng.
  2. Theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 20030099000020 ngày 03/04/2020, thoả thuận như sau:
    • Hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
    • Loại thẻ: VISA.
    • Lãi suất vay: 28%/năm.
    • Lãi suất quá hạn: 28%/năm.
    • Phí phạt chậm trả: 3,5% x số tiền chậm trả.
    • Phí vượt hạn mức: 0,075%/ngày.
    • Phương thức trả nợ và điều kiện áp dụng: Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm Thẻ tín dụng quốc tế.

Tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho các Hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết tại Hợp đồng thế chấp số 0352.01/21/HĐTC-BĐS/1000-1000 ngày 30/03/2021 và Hợp đồng thế chấp số 0352.02/21/HĐTC-BĐS/1000-1000 ngày 30/03/2021, cụ thể:

  • Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306756, số vào sổ cấp GCN số H02336 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
  • Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306769, số vào sổ cấp GCN số H02323 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
  • Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306741, số vào sổ cấp GCN số H02366 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
  • Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số số AN 306812, số vào sổ cấp GCN số H02373 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho ông Tạ Hoài S ngày 28/10/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Các hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được Văn phòng C1, tỉnh Kiên Giang công chứng ngày 30/03/2021 và tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/03/2021 tại Chi nhánh Văn phòng C1 theo đúng quy định pháp luật.

Khi đến hạn thanh toán nợ, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nhắc nhở, yêu cầu thanh toán nợ nhưng bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 vẫn chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng như thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký.

Do bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ nên Ngân hàng đã tiến hành thực hiện các thủ tục thu giữ để xử lý tài sản thế chấp nêu trên theo Thông báo về việc yêu cầu bàn giao tài sản số 810/TB-NHKL ngày 15/04/2022; Quyết định về việc thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ số 849/QĐ-NHKL ngày 15/04/2022; Thông báo về việc thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ số 1103/TB-NHKL ngày 05/05/2022 và theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.

Ngày 26/05/2022 Ngân hàng đã tiến hành thu giữ thực địa đối với tài sản thế chấp nêu trên và tại buổi thu giữ có sự tham gia chứng kiến của bà Hồ Xuân Giang T, ông Trương Văn T1 và bà Tạ Thị Giang C (người quản lý tài sản); đại diện Văn phòng T2 và đại điện Công ty cổ phần T3. Hiện trạng tài sản được thể hiện chi tiết tại Vi bằng số 232/2022/VB-TPL ngày 31/5/2022 của Văn phòng T2 và kết quả định giá tài sản được thể hiện chi tiết tại Chứng thư số Vc 22/06/286/BĐS-PQ ngày 29/06/2022 của công ty cổ phần T3.

Ngày 10/11/2022 tài sản thế chấp nêu trên đã được đưa ra bán đấu giá lần 01 với giá khởi điểm: 23.306.850.540đ (Hai mươi ba tỷ, ba trăm lẻ sáu triệu, tám trăm năm mươi nghìn, năm trăm bốn mươi đồng) nhưng không thành. Mặc dù, đã đưa ra bán đấu giá nhiều lần (15 lần) với giá khởi điểm: 15.938.121.328đ (Mười lăm tỷ, chín trăm ba mươi tám triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn, ba trăm hai mươi tám đồng) nhưng tài sản vẫn không có người mua.

Tính đến ngày 10/10/2025, bà Hồ Xuân Giang T và ông Trương Văn T1 còn nợ Ngân hàng K số tiền cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/03/2021.
    • + Nợ gốc còn lại:14.535.000.000 đồng
    • + Lãi trong hạn còn lại: 413.337.534 đồng
    • + Lãi quá hạn còn lại: 9.243.337.808 đồng
    • + Lãi chậm trả còn lại: 149.494.293 đồng
    • Tổng cộng: 24.341.169.636 đồng (Hai mươi bốn tỷ ba trăm bốn mươi mốt triệu một trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi sáu đồng).
  2. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 20030099000020 ngày 03/04/2020.
    • + Nợ gốc còn lại:20.333.904 đồng
    • + Lãi phát sinh còn lại:21.769.240 đồng
    • + Phí phạt chậm trả còn lại: 22.511.598 đồng
    • + Phí vượt hạn mức/phí TN: 2.600.000 đồng
    • Tổng cộng: 67.214.742 đồng (Sáu mươi bảy triệu, hai trăm mười bốn nghìn, bảy trăm bốn mươi hai đồng).
  3. Tổng chi phí các khoản theo các Hợp đồng dịch vụ lập vi bằng, định giá, bán đấu giá là 136.775.000 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Trong đó, chi phí lập vi bằng theo Hợp đồng số 232/2022/HĐDV-VB ngày 08/01/2020 và Hợp đồng số 236/2022/HĐDV-VB ngày 26/05/2022 là: 30.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản theo Hợp đồng dịch vụ thẩm định giá số 211/HĐDV-PN-PQ ngày 19/05/2022 là 25.775.000 đồng, chi phí bán đấu giá tài sản theo Hợp đồng dịch vụ thẩm định giá số 221/2022/HĐDV-ĐGTS ngày 19/9/2022 là 75.000.000 đồng.

Ngân hàng K có đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 – An Giang) yêu cầu xem xét, giải quyết các nội dung sau:

  1. Yêu cầu bà Hồ Xuân Giang T và ông Trương Văn T1 phải trả cho Ngân hàng K số tiền tính đến ngày 10/10/2025 cụ thể như sau:
    • - Theo Hợp đồng tín dụng số 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/03/2021 tính đến ngày 26/09/2025 là: 24.341.169.636 đồng (Hai mươi bốn tỷ ba trăm bốn mươi mốt triệu một trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi sáu đồng), trong đó, nợ gốc còn lại là 14.535.000.000 đồng, lãi trong hạn còn lại là 413.337.534 đồng, lãi chậm trả còn lại là 149.494.293 đồng, lãi quá hạn còn lại là 9.243.337.808 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từ ngày 11/10/2025 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
    • - Theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 20030099000020 ngày 03/04/2020 tính đến ngày 26/09/2025 là: 67.214.742 đồng (Sáu mươi bảy triệu, hai trăm mười bốn nghìn, bảy trăm bốn mươi hai đồng). Trong đó, vốn gốc còn lại là 20.333.904 đồng, lãi phát sinh còn lại là 21.229.974 đồng, phí phạt chậm trả còn lại là 22.511.598 đồng, phí vượt hạn mức/phí thường niên còn lại là 2.600.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 20030099000020 từ ngày 11/10/2025 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
  2. Các chi phí liên quan trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng dịch vụ lập vi bằng, định giá, bán đấu giá là: 136.775.000 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Trong đó, chi phí lập vi bằng theo Hợp đồng số 232/2022/HĐDV-VB ngày 08/01/2020 và Hợp đồng số 236/2022/HĐDV-VB ngày 26/05/2022 là: 30.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản theo Hợp đồng dịch vụ thẩm định giá số 211/HĐDV-PN-PQ ngày 19/05/2022 là 25.775.000 đồng, chi phí bán đấu giá tài sản theo Hợp đồng dịch vụ thẩm định giá số 221/2022/HĐDV-ĐGTS ngày 19/9/2022 là 75.000.000 đồng.
  3. Trường hợp bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 không trả hoặc trả không đầy đủ nợ cho Ngân hàng trong thời gian thỏa thuận hoặc khi Q định/Bản án có hiệu lực thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền, phát mãi tài sản bảo đảm theo các hợp đồng thế chấp nêu trên để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K.

Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn – ông Dương Trần H trình bày: Ông H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với chi phí liên quan trong quá trình thu giữ tài sản, chỉ yêu cầu ông T1 bà T trả ngân hàng số tiền 130.775.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Các yêu cầu khởi kiện khác giữ nguyên.

* Bị đơn trong vụ án - Bà Hồ Xuân Giang T trình bày (Trích biên bản ghi lời khai ngày 03/01/2025):

Bà T và ông Trương Văn T1 trước đây là vợ chồng có ký vay của Ngân hàng TMCP K số tiền 15.300.000.000 đồng. Đến năm 2024, bà T và ông T1 ly hôn nhưng không yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung. Khi vay có thế chấp 04 thửa đất:

  • - Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306756, số vào sổ cấp GCN số H02336 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
  • - Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306769, số vào sổ cấp GCN số H02323 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
  • - Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306741, số vào sổ cấp GCN số H02366 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
  • - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số số AN 306812, số vào sổ cấp GCN số H02373 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho ông Tạ Hoài S ngày 28/10/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Trong 04 thửa đất thế chấp cho ngân hàng có 01 thửa đất diện tích 120 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN306812 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 03/3/2009, cập nhật chuyển nhượng cho ông Tạ Hoài S ngày 28/10/2009. Ông S là cậu ruột của bà T được nhờ đứng tên thửa đất giúp mẹ bà T.

Sau đó trả nợ gốc và lãi được một thời gian thì không trả được nữa vì lý do kinh tế gia đình. Số tiền nợ gốc đã trả là 765.000.000 đồng. Ngoài ra bà T còn ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, lãi suất theo thoả thuận trong hợp đồng. Bà T đã sử dụng số tiền 20.333.904 đồng. Đối với số tiền đã sử dụng trong thẻ, bà T chưa trả cho ngân hàng.

Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T và ông T1 trả tiền cho ngân hàng thì bà T đồng ý trả tiền gốc và lãi phát sinh cho ngân hàng cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Trường hợp bà T và ông T1 không trả hoặc trả không đủ nợ thì bà T đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Bà T không đồng ý trả các chi phí liên quan trong quá trình ngân hàng thu giữ tài sản bảo đảm theo các hợp đồng dịch vụ lập vi bằng, định giá, bán đấu giá là: 130.775.000 đồng.

Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của bà T - Ông Nguyễn Đức H1 trình bày:

Ông H1 thừa nhận bà T còn nợ và đồng ý trả tiền cho ngân hàng TMCP K số tiền vốn gốc, tiền lãi theo số liệu của đại diện ngân hàng trình bày tại phiên toà. Ông H1 đồng ý trả các khoản chi phí liên quan trong quá trình thu giữ tài sản số tiền 130.775.000 đồng.

Bị đơn ông Trương Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt trong các lần triệu tập tại Tòa án mà không thông báo lý do. Đến ngày 03/10/2025, ông T1 có đơn giải quyết và xét xử vắng mặt, theo đơn ông T1 trình bày: Ông T1 và bà T trước đây là vợ chồng có vay của ngân hàng TMCP K một số tiền. Tuy nhiên ông T1 không sử dụng số tiền vay này, bà T là người sử dụng và chi trả các khoản tiền lãi và gốc cho ngân hàng. Sau đó ông T1 và bà T ly hôn. Hiện nay, ông T1 không biết còn nợ ngân hàng bao nhiêu tiền. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án - Ông Tạ Hoài S, bà Phù Ái N trình bày (Trích biên bản lấy lời khai ngày 16/06/2025):

Thửa đất diện tích 120 m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 306812 cấp ngày 03/3/2009 toạ lạc tại khu phố A, phường D, huyện P đứng tên ông Tạ Hoài S hiện tại đang thế chấp để bảo đảm khoản vay của bà Hồ Xuân Giang T. Thửa đất này ông S đã chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Giang C là mẹ của bà Hồ Xuân Giang T hơn 20 năm rồi, ông S đã nhận đủ tiền. Việc vợ chồng ông S, bà M1 còn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do bà C nhờ đứng giúp. Thực tế thửa đất này bà C bà T đã vào quản lý sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng, tài sản có trên đất là do bà C, bà T đầu tư xây dựng, ông S và bà N không đầu tư gì trên đất. Nay bà T không trả hết nợ cho ngân hàng, ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất nêu trên thì ông S, bà N không có ý kiến, quyền quyết định đối với thửa đất này là của bà C vì ông S bà N đã bàn giao thửa đất này cho bà C. Ông S, bà N đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt ông bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Tạ Thị Giang C trình bày (Trích biên bản lấy lời khai ngày 03/01/2025):

Bà Hồ Xuân Giang T là con ruột của bà C, ông Tạ Hoài S là em ruột của bà C. Thửa đất diện tích 120 m² toạ lạc tại khu phố A, phường D, thành phố P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 306812 cấp ngày 03/3/2009 đứng tên ông Tạ Hoài S hiện tại đang thế chấp để bảo đảm khoản vay của bà Hồ Xuân Giang T. Ông S, bà N đã chuyển nhượng thửa đất này cho bà Tạ Thị Giang C, bà C đã giao đủ tiền cho ông S. Các tài sản trên đất là do bà C và bà T đầu tư và xây dựng. Trường hợp bà T, ông T1 không trả nợ cho ngân hàng thì bà C đồng ý để ngân hàng phát mãi thửa đất trên để đảm bảo thu hồi nợ. Bà C đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt bà.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và những người tham dự phiên tòa đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên về thời hạn giải quyết vụ án có vi phạm nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án. Thẩm phán cần rút kinh nghiệm trong quá trình giải quyết các vụ án khác.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP K.

Buộc bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 phải trả cho ngân hàng TMCP K tổng số tiền 24.539.159.378 đồng (hai mươi bốn tỷ năm trăm ba mươi chín triệu một trăm năm mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng) và tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả xong khoản nợ.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp trong trường hợp ông T1, bà T không trả hoặc trả không đầy đủ khoản tiền trên cho ngân hàng.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP K về việc rút lại một phần yêu cầu buộc bà T, ông T1 trả lại số tiền 6.000.000 đồng trong tổng các khoản chi phí thu giữ tài sản 136.775.000 đồng.

Về án phí: Tại phiên toà, các bên đương sự thoả thuận nguyên đơn chịu ½ tiền án phí, bị đơn chịu ½ tiền án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Trương Văn T1 là bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Tạ Hoài S, bà Phù Ái N và bà Tạ Thị Giang C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T1, ông S, bà N và bà C là phù hợp theo quy định tại khoản 1, Điều 227, khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng đối với bà Hồ Xuân Giang T, ông Trương Văn T1 về việc yêu cầu trả nợ gốc và tiền lãi, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Hồ Xuân Giang T, ông Trương Văn T1 ký với ngân hàng TMCP K hợp đồng tín dụng số 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/3/2021 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K2 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức. Theo hợp đồng hợp đồng tín dụng số 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/3/2021 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 20030099000020 ngày 03/04/2020, các bên có thỏa thuận về mức vay, hạn mức tín dụng, thời hạn vay và sử dụng thẻ, thời gian phương thức trả tiền vốn gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, biểu phí sử dụng thẻ và phạt vi phạm phù hợp với quy định của pháp luật về lãi suất và luật các tổ chức tín dụng. Ngân hàng đã giải ngân số tiền 15.300.000.000 đồng cho vợ chồng bà T ông T1 và ngày 14/04/2020 cấp thẻ tín dụng cho bà Hồ Xuân G T sử dụng.

Quá trình giải quyết vụ án, ông T1 có ý kiến bằng văn bản đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà Hồ Xuân G T thừa nhận đã sử dụng tiền trong thẻ tín dụng do Ngân hàng TMCP K cấp, có sử dụng và còn nợ tiền ngân hàng theo hợp đồng tín dụng 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/3/2021 số tiền vốn gốc là 14.535.000.000 đồng. Qua xem xét bản chiết tính thu nợ vay do ngân hàng cung cấp xác định từ tháng 01 năm 2022 bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 không trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Tháng 4 năm 2022, ngân hàng đã thông báo cho bà T, ông T1 về việc thanh toán nợ nhưng bà T, ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và phí hàng tháng cho ngân hàng đến nay. Do đó, bà T và ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền và vi phạm thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của bà T thống nhất trả số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và các khoản phí như ngân hàng yêu cầu.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T phải trả số tiền tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả và các khoản phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/3/2021 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 20030099000020 ngày 03/04/2020 đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp thuận.

Buộc bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 có nghĩa vụ trả cho ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền 24.408.384.378 đồng (hai mươi bốn tỷ bốn trăm lẻ tám triệu ba trăm tám mươi tư nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng), gồm các khoản sau:

  • - Nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/03/2021 tính đến ngày 10/10/2025 là: 24.341.169.636 đồng. Trong đó: Nợ gốc còn lại là 14.535.000.000 đồng, lãi trong hạn còn lại là 413.337.534 đồng, phạt chậm trả lãi còn lại là 149.494.293 đồng, lãi quá hạn còn lại là 9.243.337.808 đồng
  • - Nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 20030099000020 ngày 03/04/2020 tính đến ngày 10/10/2025 là: 67.214.742 đồng. Trong đó, vốn gốc còn lại là 20.333.904 đồng, lãi phát sinh còn lại là 21.769.240 đồng, phí phạt chậm trả còn lại là 22.511.598 đồng, phí vượt hạn mức/phí thường niên còn lại là 2.600.000 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Hồ Xuân Giang T và ông Trương Văn T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả xong khoản nợ.

[2.2] Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp:

Đối với tài sản thế chấp là 04 quyền sử dụng đất nêu trên đã thế chấp cho ngân hàng theo 02 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 30/03/2025 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm. Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ 04 tài sản thế chấp, qua kiểm tra xem xét hiện trạng, xác định không bị tranh chấp. Đây là các tài sản bảo đảm cho khoản vay của bà Hồ Xuân Giang T, ông Trương Văn T1 tại ngân hàng. Bà C, ông S, bà N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đồng ý phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bà T không trả hết nợ cho ngân hàng. Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của bà T thống nhất trường hợp bà T không trả hết nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bà Hồ Xuân G Thuỷ ông Trương Văn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng thế chấp và phù hợp với các quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc yêu cầu bà Hồ Xuân Giang T, ông Trương Văn T1 phải trả các khoản chi phí liên quan trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo các hợp đồng dịch vụ lập vi bằng, định giá, bán đấu giá là: 130.775.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, ngân hàng TMCP K đã thanh toán chi phí lập vi bằng số tiền 30.000.000 đồng cho văn phòng T2, chi phí thông báo đấu giá tài sản số tiền 75.000.000 đồng cho công ty Đ, chi phí định giá tài sản 25.775.000 đồng cho công ty Đ1. Đây là các khoản chi phí cần thiết phục vụ cho việc thu giữ tài sản thế chấp để bán đấu giá thu hồi nợ cho ngân hàng. Khi ngân hàng thu giữ tài sản thế chấp để xử lý nợ, ngân hàng đã thông báo cho bà T, bà C, ông T1 và có lập biên bản ngày 26/05/2022 về việc thu giữ và ghi nhận hiện trạng của tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ. Trong biên bản ngày 26/05/2022, ghi nhận nội dung bên thế chấp tài sản đồng ý bàn giao tài sản cho ngân hàng xử lý. Theo thoả thuận tại Điều 10 của hợp đồng thế chấp tài sản ngày 30/03/2021 giữa ngân hàng và bên thế chấp về việc xử lý tài sản thế chấp, các bên có thoả thuận trường hợp thu giữ tài sản thế chấp, bên thế chấp tài sản phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc thu giữ và quản lý tài sản thế chấp. Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của bà T thống nhất trả cho ngân hàng các khoản chi phí thu giữ tài sản.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc yêu cầu bà Hồ Xuân Giang T, ông Trương Văn T1 phải trả các khoản chi phí liên quan trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo các hợp đồng dịch vụ lập vi bằng, định giá, bán đấu giá số tiền 130.775.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần K về việc rút một phần yêu cầu buộc bà Hồ Xuân Giang T, ông Trương Văn T1 trả số tiền 6.000.000 đồng vì lý do sai sót trong lỗi đánh máy.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm được tính trên số tiền 24.341.169.636 + 67.214.742 + 130.775.000 = 24.539.159.378 đồng là 132.539.100 đồng (một trăm ba mươi hai triệu năm trăm ba mươi chín nghìn một trăm đồng).

Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của bà T và đại diện ngân hàng thương mại cổ phần K thoả thuận được với nhau về phần án phí dân sự, nguyên đơn sẽ chịu ½ tiền án phí, bị đơn chịu ½ tiền án phí. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bà Hồ Xuân Giang T và ông Trương Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 66.269.580 đồng (sáu mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm tám mươi đồng).

Ngân hàng thương mại cổ phần K phải chịu án phí là 66.269.580 đồng (sáu mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm tám mươi đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 63.937.503 đồng theo biên lai thu số 0000350 ngày 21/6/2024 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.479.000 đồng theo biên lai thu số 0006531 ngày 23/9/2024. Ngân hàng thương mại cổ phần K được nhận lại số tiền 1.146.923 đồng (một triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi ba đồng) tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 147; 227; 228; 266; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Áp dụng các Điều 280, 299, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
  • - Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần K đối với bà Hồ Xuân Giang T và ông Trương Văn T1.
  2. Buộc bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 có nghĩa vụ trả cho ngân hàng thương mại cổ phần K tổng số tiền 24.539.159.378 đồng (hai mươi bốn tỷ năm trăm ba mươi chín triệu một trăm năm mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng), gồm các khoản sau:

    1. Nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 0352/21/HĐTD/1000-1000 ngày 30/03/2021 tính đến ngày 10/10/2025 là: 24.341.169.636 đồng. Trong đó: Nợ gốc còn lại là 14.535.000.000 đồng, lãi trong hạn còn lại là 413.337.534 đồng, phạt chậm trả lãi còn lại là 149.494.293 đồng, lãi quá hạn còn lại là 9.243.337.808 đồng
    2. Nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 20030099000020 ngày 03/04/2020 tính đến ngày 10/10/2025 là: 67.214.742 đồng. Trong đó, vốn gốc còn lại là 20.333.904 đồng, lãi phát sinh còn lại là 21.769.240 đồng, phí phạt chậm trả còn lại là 22.511.598 đồng, phí vượt hạn mức/phí thường niên còn lại là 2.600.000 đồng
    3. Chi phí thu giữ tài sản số tiền 130.775.000 đồng (một trăm ba mươi triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), trong đó: Chi phí lập vi bằng số tiền 30.000.000 đồng, chi phí thông báo đấu giá tài sản số tiền 75.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản 25.775.000 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Hồ Xuân Giang T và ông Trương Văn T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả xong khoản nợ.

    Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần K đối với yêu cầu buộc bà Hồ Xuân G T và ông Trương Văn T1 về việc buộc ông T1 bà T trả số tiền 6.000.000 đồng.

    Trường hợp ông Trương Văn T1, bà Hồ Xuân Giang T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là:

    • - Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306756, số vào sổ cấp GCN số H02336 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
    • - Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306769, số vào sổ cấp GCN số H02323 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
    • - Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AN 306741, số vào sổ cấp GCN số H02366 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Xuân G Thủy ngày 12/11/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
    • - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số số AN 306812, số vào sổ cấp GCN số H02373 do UBND huyện P cấp ngày 03/3/2009 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho ông Tạ Hoài S ngày 28/10/2009), diện tích 120 m² (Đất ở đô thị); tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

    Để đảm bảo thu hồi nợ.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Xuân Giang T và ông Trương Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 66.269.580 đồng (sáu mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm tám mươi đồng).
  4. Ngân hàng thương mại cổ phần K phải chịu án phí là 66.269.580 đồng (sáu mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm tám mươi đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 63.937.503 đồng theo biên lai thu số 0000350 ngày 21/6/2024 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.479.000 đồng theo biên lai thu số 0006531 ngày 23/9/2024. Ngân hàng thương mại cổ phần K được nhận lại số tiền 1.146.923 đồng (một triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi ba đồng) tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang.

  5. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần K, bà Hồ Xuân Giang T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trương Văn T1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 2 – An Giang ;
  • - Phòng T.H.A DS khu vực 2 – An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lương Quang Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/DS-ST ngày 10/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 78/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/10/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hành TMCP K kiện buộc vợ chồng bà Hồ Xuân GT trả số tiền vay còn nợ. trường hợp không trả được thì phát mãi tài sản thế chấp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger