Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/DS-PT

Ngày 18 - 6 - 2025;

Vv: Tranh chấp Hợp đồng đăng ký giao dịch.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:ông Nguyễn Hữu Thịnh.
Các Thẩm phán:ông Nguyễn Văn Thọ
bà Võ Thị Minh Phượng

- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thanh Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đăng ký giao dịch”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 146/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hà Hồng P, sinh năm 1985; HKTT: Thôn D, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ tạm trú: Số I K Đ, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh D, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số B Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng.

- Bị đơn: Công ty TNHH B (sau đây gọi tắt là Công ty B); Địa chỉ trụ sở: Khu đô thị M - Đ, khối phố Q, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Thị Thanh N, sinh năm: 1998; Ông Võ Đức D1, sinh năm: 1987; Cùng địa chỉ: số B L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.

- Người kháng cáo: bị đơn Công ty TNHH B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Hà Hồng P trình bày: Ngày 23/3/2021, giữa ông và Công ty B có ký kết Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND về việc mua Dự án thuộc Khu nhà ở cho người thu nhập thấp tại đô thị mới Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ. Thông tin sản phẩm cụ thể: Lô đất B12.15, diện tích sử dụng 75m², trị giá 1.069.500.000 đồng. Theo Điều 2.2 Hợp đồng quy định thời hạn chuyển nhượng sản phẩm nêu trên là 12 tháng kể từ ngày ký kết Hợp đồng, cộng thêm 06 tháng nếu chậm tiến độ, có nghĩa chậm nhất đến tháng 9/2022, Công ty B phải thực hiện ký kết chuyển quyền sử dụng đất theo thỏa thuận cho ông P. Tuy nhiên đến nay, tình hình triển khai Dự án bị chậm trễ tiến độ nghiêm trọng, dẫn đến việc Công ty B vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ ký kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông P.

Ông P đã thanh toán số tiền 748.650.000 đồng, tương đương 70% giá trị sản phẩm. Nhận thấy tiến độ thực hiện nghĩa vụ ký kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất chậm trễ nghiêm trọng, đồng thời qua kiểm tra hiện trạng thực tế Dự án, ông được biết Công ty B chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý và cơ sở hạ tầng theo quy định pháp luật. Ông P đã thiện chí liên hệ Công ty B nhiều lần để các bên đưa ra phương án giải quyết triệt để vấn đề nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung.

Ông P đã gửi thư đề nghị mở cuộc họp và trao đổi công việc có liên quan đến Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND đến Công ty B qua email và đường bưu điện, nhằm giải quyết sự việc trên tinh thần tự nguyện, tôn trọng và vì lợi ích giữa các bên. Nhưng vẫn không nhận được thiện chí hợp tác giải quyết từ phía Công ty B. Việc vi phạm hợp đồng, vi phạm thời hạn thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận đã cam kết của Công ty B đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P. Vì vậy, ông Hà Hồng P khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết:

Yêu cầu chấm dứt Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND đề ngày 23/03/2021 giữa ông Hà Hồng P và Công ty TNHH B;

Buộc Công ty TNHH B hoàn trả lại cho ông Hà Hồng P khoản tiền đã thanh toán là 748.650.000 đồng và tiền lãi 748.650.000 đồng x 10%/365 x 496 ngày = 101.735.000 đồng (lãi tạm tính đến ngày 09/8/2024), tổng cộng 850.385.000 đồng.

Bị đơn Công ty TNHH B trình bày:

Ngày 23/3/2021, ông Hà Hồng P và Công ty B có ký kết Hợp đồng đăng ký giao dịch đối với quyền sử dụng đất là sản phẩm có mã số B12.15 được mô tả tại Phụ lục số 01 Hợp đồng đăng ký giao dịch thuộc Dự án Khu nhà ở cho người thu nhập thấp tại Đô thị mới Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam do Công ty B làm chủ đầu tư. Theo đó:

  • - Hợp đồng đăng ký giao dịch được ký kết dựa trên cơ sở: Ông Hà Hồng P đã tìm hiểu kỹ, hiểu rõ và đồng ý về tình trạng thực tế của dự án, tình trạng hiện tại của pháp lý đất đai, pháp lý quy hoạch, thiết kế và pháp lý bất động sản của dự án;
  • - Khoản giao dịch dự kiến đối với sản phẩm là 1.069.500.000 đồng được quy định tại mục 1 Phụ lục số 02 Hợp đồng đăng ký giao dịch. Ông Hà Hồng P tự nguyện nộp cho Công ty B số tiền là 748.650.000 đồng được quy định tại mục 2 Phụ lục Hợp đồng.
  • - Thời gian mở bán sản phẩm các bên đã thỏa thuận trong Điều 2.2, Điều 2.3(b).(i) Hợp đồng như sau:
    • + Thời hạn dự kiến Công ty B sẽ thông báo về việc thực hiện ký kết hợp đồng giao dịch là ngày 23/3/2022;
    • + Thời hạn chính thức mở bán sản phẩm của dự án và hoặc ký kết hợp đồng giao dịch có thể sớm hoặc muộn hơn so với thời hạn dự kiến (ngày 23/3/2022), tuy nhiên sẽ không muộn hơn ngày 23/9/2022;
    • + Thời hạn ông P được quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng là từ ngày 24/3/2023 – 02/4/2023.

Theo quy định trong hợp đồng, khi có những ảnh hưởng trở ngại khách quan, Công ty B đã gửi các thông báo cũng như cập nhật tiến độ dự án đến ông P. Cụ thể vào các ngày: 15/8/2021, 01/12/2021, 28/01/2022, 30/6/2022, 08/10/2022, 25/10/2022, 17/11/2022 và ngày 18/01/2023.

Ngày 12/10/2022, ông P và Công ty B có lập Biên bản làm việc theo đó các bên thống nhất: Gia hạn tiến độ dự kiến ký kết hợp đồng đến hết Quý 1/2023 - tức là hết ngày 31/3/2023. Theo đó do thời hạn dự kiến thay đổi nên các thời hạn khác cũng thay đổi theo cụ thể:

  • - Thời hạn dự kiến Công ty B sẽ thông báo về việc thực hiện ký kết hợp đồng là ngày 31/3/2023;
  • - Thời hạn chính thức mở bán sản phẩm của dự án và hoặc ký kết hợp đồng có thể sớm hoặc muộn hơn so với thời hạn dự kiến 31/3/2023, tuy nhiên sẽ không muộn hơn ngày 30/9/2023;
  • - Thời hạn ông P được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng là từ ngày 01/4/2024 - 10/4/2024.

Tuy nhiên, ngày 23/3/2023, Công ty B nhận được Đơn đề nghị thanh lý Hợp đồng của ông P. Đến ngày 26/5/2023, ông P và Công ty B có lập Biên bản làm việc theo đó Công ty B đã trình bày về tình hình triển khai dự án, các nguyên nhân gây chậm trễ tiến độ dự án trên cơ sở pháp lý không xuất phát từ phía chủ quan của Công ty B. Công ty B chấp nhận yêu cầu thanh lý của ông P theo Điều 6.4 Hợp đồng và trình bày mong muốn ông P tiếp tục thực hiện Hợp đồng hoặc tìm bên thứ ba để chuyển nhượng toàn bộ quyền và nghĩa vụ của Hợp đồng. Công ty B sẽ hỗ trợ không thu chi phí hành chính, nhưng ông P muốn thanh lý Hợp đồng đăng ký giao dịch theo Điều 2.3 hoặc Điều 6.3 Hợp đồng, không chấp nhận thanh lý theo Điều 6.4 Hợp đồng.

Ngày 13/6/2023 và ngày 12/8/2023, Công ty B đã gửi văn bản đến ông P. Do đó, thời điểm ông P nộp Đơn khởi kiện (ngày 09/10/2023) là trước thời hạn mà ông P được quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng là không đúng thỏa thuận tại khoản 2.3.(b).(i) Hợp đồng và Biên bản thỏa thuận ngày 12/10/2022 .

Ngoài ra, việc dự án kéo dài thời gian ký kết Hợp đồng do các nguyên nhân khách quan: dịch C; thủ tục xin cấp Giấy phép môi trường dự án theo sự thay đổi của quy định pháp luật; thực hiện kết luận của Kiểm toán Nhà nước Khu vực III và kết luận kiểm toán của UBND tỉnh Q; Thanh tra Chính phủ về việc quản lý, sử dụng đất đai, quản lý đầu tư xây dựng tại tỉnh Quảng Nam; cơ quan Nhà nước chậm dừng thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính của Dự án; Vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng.

Do đó, bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị Toà án giải quyết:

  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Hồng P về việc: Yêu cầu chấm dứt Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021 giữa ông P với Công ty B; Buộc Công ty B trả lại cho ông Hà Hồng P số tiền đã thanh toán là 748.650.000 đồng và tiền lãi.
  • - Tuyên ông Hà Hồng P chưa có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021 và Biên bản thỏa thuận ngày 12/10/2022.
  • - Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 420 Bộ luật dân sự 2015 để sửa đổi Khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021 theo hướng gia hạn thời hạn chính thức thêm 18 tháng tính từ thời điểm kết thúc 04 sự kiện là: Sự kiện “Tổ chức thực hiện theo kết luận của Kiểm toán Nhà nước Khu vực III và thực hiện nội dung báo cáo thực hiện kết luận kiểm toán của UBND tỉnh Q”; sự kiện “Thanh tra Chính phủ về việc quản lý, sử dụng đất đai, quản lý đầu tư xây dựng tại tỉnh Quảng Nam”; sự kiện “Cơ quan Nhà nước chậm dừng thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính của Dự án” và sự kiện: “Vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng”

Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ các Điều 26; 35; 39, 147, 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 280, 468 Bộ luật dân sự; và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Hồng P về việc “Tranh chấp hợp đồng đăng ký giao dịch” với bị đơn Công ty TNHH B.
    • - Chấm dứt Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021 giữa ông Hà Hồng P với Công ty TNHH B
    • Buộc Công ty TNHH B phải trả cho ông Hà Hồng P số tiền 850.385.000 đồng, trong đó tiền gốc là 748.650.000 đồng và tiền lãi 101.735.000 đồng (lãi tạm tính đến ngày 09/8/2024).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/8/2024 bị đơn Công ty TNHH B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thụ lý, xét xử vụ án; các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
  • - Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn; Sửa một phần Bản án số 158/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn về yêu cầu tính lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm.

Về thời hạn kháng cáo: bị đơn Công ty TNHH B kháng cáo trong thời hạn nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý phúc thẩm vụ án theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Xét nội dung kháng cáo

[2.1] Nội dung: Ngày 23/3/2021, ông Hà Hồng P và Công ty B ký Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND về việc mua Dự án thuộc Khu nhà ở cho người thu nhập thấp tại đô thị mới Đ - Đ, Sản phẩm Lô đất B12.15, diện tích sử dụng 75m², trị giá 1.069.500.000 đồng, ông P đã thanh toán số tiền 748.650.000 đồng, tương đương 70% giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, đến nay đã quá thời hạn theo thỏa thuận nhưng Công ty B vẫn chưa ký kết được Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy, ông Hà Hồng P khởi kiện: Yêu cầu chấm dứt Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND đề ngày 23/03/2021 giữa ông Hà Hồng P và Công ty TNHH B. Buộc Công ty B phải trả lại số tiền gốc và lãi đến ngày xét xử là 850.385.000 đồng. Bị đơn Công ty B, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phản tố đề nghị Tòa tuyên buộc ông Hà Hồng P tiếp tục thực hiện hợp đồng và gia hạn thời hạn chính thức thêm 18 tháng tính từ thời điểm kết thúc 04 sự kiện gồm: sự kiện “Tổ chức thực hiện theo kết luận của Kiểm toán Nhà nước Khu vực III và thực hiện nội dung báo cáo thực hiện kết luận kiểm toán của UBND tỉnh Q”; sự kiện “Thanh tra Chính phủ về việc quản lý, sử dụng đất đai, quản lý đầu tư xây dựng tại tỉnh Quảng Nam”; sự kiện “Cơ quan Nhà nước chậm dừng thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính của Dự án” và sự kiện: “Vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng”.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.2.1] Về yêu cầu chấm dứt hợp đồng: Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021 giữa ông Hà Hồng P với Công ty B được ký kết là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật. Các điều khoản giao kết trong hợp đồng là do các bên tự nguyện thỏa thuận, ông Hà Hồng P và người có thẩm quyền của Công ty B đồng ý, cam kết thực hiện, nên hợp đồng có giá trị pháp luật, bắt buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Theo thỏa thuận tại điểm 2.1 Điều 2 hợp đồng thì “Thời gian dự kiến gửi Thông báo ký kết là 12 tháng kể từ ngày hợp đồng này có hiệu lực” tức là ngày 23/3/2022 và thời hạn chính thức mở bán sản phẩm của Dự Án hoặc ký kết Hợp Đồng Giao Dịch có thể sớm hoặc muộn hơn so với thời hạn dự kiến, nhưng không muộn hơn 6 tháng, tức là không quá qua ngày 23/9/2022. Vậy, tính đến thời điểm hiện nay thì Công ty B đã không thực hiện đúng theo thời gian đã thỏa thuận tại Hợp đồng đăng ký giao dịch, là vi phạm hợp đồng. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của Công ty B cũng đã thừa nhận: Cho đến nay (khi xét xử phúc thẩm) Lô đất B12.15 các bên ký hợp đồng cũng chưa đủ điệu kiện để ký hợp đồng chuyển nhượng.

Ngoài ra, ngày 23/3/2023 ông Hà Hồng P có Văn bản đề nghị thanh lý hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021. Tại Biên bản làm việc ngày 26/5/2023 thể hiện đại diện Công ty B, Trưởng Văn phòng Đ có ý kiến: Nếu khách hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng thì Công ty chỉ hoàn trả khoản đăng ký còn lại theo Điều 6.4 tại Hợp đồng đăng ký giao dịch. Đối với nguyên đơn ông P mong muốn thanh lý theo khoản 2.3 Điều 2 hoặc Điều 6.3 của Hợp đồng hoặc nhận lại khoản tiền thực nộp. Điều này chứng tỏ nguyên đơn đã thông báo cho bị đơn biết việc sẽ thanh lý hợp đồng và hai bên đã cùng nhau họp bàn để thỏa thuận việc thanh lý hợp đồng, nhưng không đạt được. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chấm dứt hợp đồng là có cơ sở.

Đối với ý kiến bị đơn cho rằng ngày 12/10/2022, ông Hà Hồng P và Công Ty B có lập Biên bản làm việc theo đó các bên thống nhất: Gia hạn tiến độ dự kiến ký kết Hợp Đồng Giao Dịch đến hết Quý 1/2023, tức là hết ngày 31/3/2023. Căn cứ theo khoản 11.3 Điều 11 Hợp Đồng Đăng Ký Giao Dịch thì thời hạn dự kiến Công Ty B sẽ thông báo về việc thực hiện ký kết Hợp đồng giao dịch là ngày 31/3/2023; Thời hạn chính thức mở bán sản phẩm sẽ không muộn hơn ngày 30/9/2023 và thời hạn ông P được quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng đăng ký giao dịch là từ ngày 01/4/2024 đến 10/4/2024. Nội dung này Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Biên bản làm việc ngày 12/10/2022 thành phần tham dự Công ty B có bà Hồ Thị Thanh N, chức vụ: Kế toán trưởng và bà Trần Thị Hồng V, chuyên viên chăm sóc khách hàng. Về phía khách hàng có ông Hà Hồng P nội dung thỏa thuận các bên có ghi nhận ý kiến khách hàng đồng ý gia hạn tiến độ ký kết hợp đồng đến hết quý 1/2023. Tại phiên tòa sơ thẩm bà Hồ Thị Thanh N khai nhận giữa bà và ông Hà Hồng P có thỏa thuận với nhau nội dung như trên, tuy nhiên do không đạt được thỏa thuận, nên hai bên không tiến đến ký kết phụ lục hợp đồng. Đối chiếu với khoản 11.3 Điều 11 của Hợp đồng đăng ký giao dịch thì “Việc sửa đổi hoặc bổ sung Hợp đồng này chỉ có hiệu lực nếu được lập thành văn bản và được các bên ký kết”. Do đó, việc bà Hồ Thị Thanh N, chức vụ: Kế toán trưởng, bà Trần Thị Hồng V, chuyên viên chăm sóc khách hàng đại diện Công ty B thỏa thuận những sửa đổi hoặc bổ sung Hợp đồng là không đảm bảo đúng quy định pháp luật. Biên bản làm việc ngày 12/10/2022 không được xem là một phụ lục hợp đồng.

[2.3] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Điều 7 của Hợp đồng đăng ký giao dịch có liệt kê một số sự kiện bất khả kháng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Đối chiếu với các sự kiện do bị đơn đưa ra thì các sự kiện trên không thuộc các sự kiện được cho là sự kiện bất khả kháng. Mặt khác tại điểm 7.5 của Hợp đồng các bên có thỏa thuận “Trong trường hợp sự kiện bất khả kháng kéo dài hơn 90 ngày kể từ ngày xảy ra sự kiện bất khả kháng thì một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng này.” Nên mặc dù có sự kiện bất khả kháng xảy ra thì nguyên đơn vẫn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đồng thời, qua xem xét thẩm định tại chỗ thì Dự án đang dừng thi công, sản phẩm đất kí hiệu B12.15 không xác định được vị trí cụ thể trên thực địa, thửa đất chưa được cấp Giấy CNQSD đất. Các sự kiện do bị đơn đưa ra thì chính bị đơn cũng không xác định được thời điểm kết thúc của các sự kiện này. Do đó, yêu cầu phản tố của bị đơn về việc gia hạn thời hạn ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không có cơ sở. Do đó bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Đối với nội dung bản án sơ thẩm buộc Công ty B phải trả cho ông Hà Hồng P số tiền là 748.650.000 đồng, Hội đồng xét xử xét: tại Điều 2.3(b)(i) của Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021 giữa ông Hà Hồng P với Công ty B đã quy định: Công ty B có trách nhiệm chi trả cho khách hàng toàn bộ khoản đăng ký thực nộp theo quy định tại Điều 2.3(b)(i) của Hợp đồng trong vòng 03 tháng kể từ ngày chấm dứt. Nên bản án sơ thẩm thẩm buộc Công ty B phải trả cho ông Hà Hồng P số tiền là 748.650.000 đồng mà ông P đã nộp cho Công ty B là đúng quy định pháp luật.

Đối với nội dung bản án sơ thẩm buộc Công ty B phải trả cho ông Hà Hồng P khoản tiền lãi 101.735.000 đồng (tính đến khi xét xử ngày 09/8/2024), Hội đồng xét xử xét: tại điểm a 2.3 Điều 2 của Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021 giữa ông Hà Hồng P với Công ty B đã quy định: Kể từ ngày tiếp theo ngay sau khi kết thúc hợp đồng, Công ty B phải trả lãi cho khách hàng trên số tiền đã nộp theo: Lãi suất tính bằng Lãi suất tiền gởi kỳ hạn 12 tháng của Ngân hàng TMCP Á công bố tại ngày bắt đầu tính lãi là ngày 26/5/2023.

Hồ sơ thể hiện ngày 23/3/2023 ông Hà Hồng P có văn bản đề nghị thanh lý hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021. Tại Biên bản làm việc ngày 26/5/2023 đại diện Công ty B và ông Hà Hồng P cũng đã thoả thuận việc thanh lý hợp đồng, nhưng không đạt được. Nên theo hợp đồng đã ký thì Công ty B phải trả lãi cho khách hàng trên số tiền đã nộp từ ngày 27/5/2023. Do đó, kể từ ngày 27/5/2023 Công ty B phải trả lãi cho ông P. Cụ thể:

Thời gian phải trả lãi chậm trả: từ ngày 27/5/2023 đến ngày 09/8/2024 là 441 ngày.

Số tiền trả lãi chậm trả 748.650.000 đồng x 6.6%/365ngày x 441 ngày = 59.690.314 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty B, sửa bản án sơ thẩm đối với số tiền trả lãi chậm trả được chấp nhận là 59.690.314 đồng.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận một phần, nên Công ty B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nên tính lại án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp. Cụ thể:

Ông Hà Hồng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm phần không được chấp nhận: (101.735.000 đồng - 59.690.314 đồng) 42.044.686 đồng x 5% = 2.102.000 đồng.

Công ty B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: (748.650.000 đồng + 59.690.314 đồng) là 36.250.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH B, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Căn cứ Điều 26; 35; 39, 147, 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 280, 468 Bộ luật dân sự; và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Hồng P về việc “Tranh chấp hợp đồng đăng ký giao dịch” với bị đơn Công ty TNHH B.
    • - Chấm dứt Hợp đồng đăng ký giao dịch số 13/2021/HĐĐKGD/EULAND ngày 23/3/2021 giữa ông Hà Hồng P với Công ty TNHH B.
    • Buộc Công ty TNHH B phải trả cho ông Hà Hồng P số tiền 808.340.314 đồng (Tám trăm không tám triệu, ba trăm bốn nghìn, ba trăm mười bốn đồng), trong đó tiền gốc là 748.650.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 59.690.314 đồng.
    • Không chấp nhận yêu cầu buộc Công ty TNHH B phải trả lãi chậm trả cho ông Hà Hồng P số tiền 42.044.686 đồng của ông Hà Hồng P.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH B đối với yêu cầu khởi kiện của ông Hà Hồng P.
  3. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015.
  4. Về án phí: Ông Hà Hồng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.102.000 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông Hà Hồng P đã nộp là 17.657.000 đồng tại Biên lai thu số 0000396, ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Hoàn trả cho ông Hà Hồng P số tiền 15.555.000 đồng (Mười lăm triệu,năm trăm năm mươi lăm ngàn đồng).
    • Công ty TNHH B phải chịu 36.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014417 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Điện Bàn. Công ty Công ty TNHH B còn phải nộp số tiền án phí là 35.950.000 đồng (Ba mươi lăm triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng).
    • Công ty TNHH B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn lại cho Công ty TNHH B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014684 ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
  5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ Công ty TNHH B phải chịu 3.000.000 đồng. Do ông Hà Hồng P đã nộp tạm ứng, nên Công ty TNHH B phải hoàn lại cho ông Hà Hồng P số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 6 năm 2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - TAND thị xã Điện Bàn;
  • - CCTHADS thị xã Điện Bàn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

"Đã ký"

Nguyễn Hữu Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp hợp đồng đăng ký giao dịch

  • Số bản án: 78/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đăng ký giao dịch
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng đăng ký giao dịch.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger