Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 78/2025/DS-PT Ngày: 17 - 02 - 2025

“V/v: Tranh chấp thừa kế.”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Hoàng
Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Anh;
Ông Chu Tuấn Anh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Lan – Thư ký TAND Thành phố Hà Nội

Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Bách Thiện L - Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2025, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 493/2024/TLPT-DS ngày 14/11/2024 về “Tranh chấp thừa kế tài sản”. Do bản án sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của TAND huyện Ứng Hòa, Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 16/12/2024; Thông báo mở lại phiên tòa ngày 10/02/2025 của TAND Thành phố Hà Nội đối với các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Văn N, sinh năm 1932. Địa chỉ: Thôn M, xã H (N là xã H), huyện Ứ, Hà Nội.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn M, xã H (N là xã H), huyện Ứ, Hà Nội.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1955;
    • 3.2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960;
    • 3.3. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963;
    • 3.4. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965;
    • 3.5. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968;
    • 3.6. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1971;
    • 3.7. Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1999;
    • 3.8. Chị Nguyễn Khánh L3, sinh năm 2003;
    • 3.9. Chị Nguyễn Linh X, sinh năm 2001;
    • 3.10. Cháu Nguyễn Tuệ A, sinh năm 2023. Người đại diện hợp pháp cho cháu A là anh H và chị Xuân

Người đại diện theo uỷ quyền của các bà T, T1, V, L2 và ông M là cụ Nguyễn Văn N.

Người đại diện theo uỷ quyền của chị L3, chị X là anh H;

Người đại diện theo uỷ quyền của bà N1 là ông Nguyễn Văn L1.

Đều có HKTT và cư trú tại: Thôn M, xã H (N là xã H), huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.

  1. Người kháng cáo:
  • 4.1. Ông Nguyễn Văn L1 là bị đơn;
  • 4.2. Bà Nguyễn Thị N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Có mặt cụ N, ông L1, anh H. Các đương sự còn lại đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Nguyên đơn – Cụ N trình bày:

    Cụ và cụ Nguyễn Thị P, sinh năm 1934 (chết 2018, không để lại di chúc) cưới hỏi theo phong tục truyền thống năm 1953, không có đăng ký kết hôn. Hai cụ sinh được 08 người con: Bà Nguyễn Thị N1; Ông Nguyễn Văn L1; Bà Nguyễn Thị T; Ông Nguyễn Văn M; Bà Nguyễn Thị T1; Bà Nguyễn Thị V; Bà Nguyễn Thị L2; Ông Nguyễn Văn K. Ông K chết năm 2003; có vợ là bà Nguyễn Thị H1, bà H1 chết năm 2010 (Ông K, bà H1 không đều để lại di chúc) có 02 con là anh Nguyễn Minh H và chị Nguyễn Khánh L3 (Vợ chồng ông K không có con riêng, con nuôi nào khác). Vợ chồng cụ N không có con nuôi, con riêng khác. Bố mẹ của cụ P là cố B, cố Đạo đều chết trước cụ P.

    Hai vợ chồng cụ mua và được cho 03 thửa đất đều tại thôn M, xã H, huyện Ứ, Hà Nội. Vợ chồng cụ và các con đã từng thống nhất miệng sẽ cho mỗi người con trai 01 thửa đất. Thực tế vợ chồng cụ đã cho ông M, ông L1 mỗi người một thửa đất.

    Thửa đất hiện ông L1 đang sinh sống có nguồn gốc là của bố mẹ cụ cho cụ, nhưng vì ông L1 là con trưởng và lập gia đình trước nên ông L1 xin ở thửa đất này và gia đình đồng ý chứ không phải đất do vợ chồng cụ hay vợ chồng ông L1 mua. Sau khi cho ông L1, ông M đất thì gia đình các ông sinh sống ổn định và đều được cấp Giấy CNQSD đất. Thửa đất vợ chồng cụ sinh sống chính là thửa đất số 196 tờ bản đồ 18 tại thôn M, xã H, huyện Ứ, Hà Nội (Sau đây viết tắt là thửa đất số 196); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 529542 do UBND huyện Ứ cấp ngày 08/12/2017 cho cụ Nguyễn Văn N và cụ Nguyễn Thị P (Sau đây viết tắt là CNQSDĐ số BV 529542). Thửa đất số 196 có nguồn gốc do vợ chồng cụ mua, là nơi các con cụ sinh ra và trưởng thành. Trong quá trình sử dụng, vợ chồng cụ không mua thêm hay bán bớt; trên thửa đất có xây ngôi nhà 05 gian, tường xây gạch, lợp ngói ri (do vợ chồng cụ xây xây năm 1974); 01 bếp và trái bếp xây bằng tường gạch đỏ và lợp proximăng đã xây từ lâu và đến năm 2019 có sửa lại từ tiền của cụ. Năm 2022, anh H có xây dựng 01 ngôi nhà 02 tầng 01 tum (diện tích 75m²/tầng), xây gạch, trần bê tông, công trình vệ sinh khép kín, làm khu bán mái, lát lại sân và xây tường rào. Năm 2023, vợ chồng anh H xây dựng khung, lợp ngói chống nóng tầng 3. Việc xây dựng các con của cụ không đóng góp, tôn tạo gì trên thửa đất này.

    Do ông K là con út, các con lớn đều lập gia đình, ở riêng nên vợ chồng cụ ở cùng với vợ chồng ông K. Trước đây, hai vợ chồng cụ thống nhất sẽ cho vợ chồng ông K thửa đất số 196 nhưng không may vợ chồng ông K đều chết sớm; hai cụ và các bác cũng như gia đình bên ngoại cháu H cưu mang nuôi các cháu trưởng thành. Năm 2022, vì không muốn sau này cụ chết; các bác lại tranh chấp với cháu H nên đã mời các con, các cháu về họp gia đình và thống nhất sẽ cho ông L1 thêm 100m² đất còn lại chia cho cháu H, cháu L3 nhưng ông L1 không đồng ý vì ông L1 cho rằng ông là con trưởng nên phải được nhiều hơn và phần diện tích định cho H, L3 vẫn đứng tên cụ để sau này là nơi thờ cúng. Cụ không đồng ý với ông L1 vì cả làng cụ, gia đình cụ đều theo Đạo Thiên Chúa G, không có nhà thờ và cúng giỗ như bên “Lương”; Cụ muốn đất đai phải rõ ràng trước khi chết nên đề nghị Toà:

    • + Xác định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 196; GCNQSDĐ số BV 529542 là tài sản chung của cụ và cụ P; công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất mà vợ chồng cụ tạo lập do hết giá trị sử dụng nên không đề nghị giải quyết;
    • + Chia di sản thừa kế phần của cụ P theo pháp luật; đối với phần di sản mà các con: Tỉnh, T1, M, V, L2 và cháu H, cháu L3 được hưởng thống nhất để lại cho cụ, cụ đồng ý nhận; phần di sản bà N1, ông L1 được chia thì cụ sẽ thanh toán bằng tiền do ông L1, bà N1 đều đã có chỗ ở ổn định và cụ cũng muốn thực hiện di nguyện của cụ P và gia đình trước đây.
    • + Đối với tài sản của vợ chồng cháu H xây dựng trên đất thì cụ tôn trọng ý kiến của các cháu là không đề nghị giải quyết;
  2. Bị đơn- Ông N trình bày:

    Bố ông là cụ N, mẹ ông là cụ P (chết 2018). Bố mẹ ông có thửa đất số 196 và 08 người con đúng như cụ N đã trình bày. Ông có ý kiến bổ sung là thửa đất gia đình ông đang quản lý, sử dụng là đất của bà nội ông cho chứ không phải là của cụ N cho. Thửa đất của ông M là thửa đất của cụ N, cụ P cho. Thửa đất số 196; GCNQSDĐ số BV 529542 là của cụ N, cụ P. Trên thửa đất có công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất là do cụ N, cụ P và vợ chồng cháu H tạo lập, xây dựng, tôn tạo như cụ N trình bày; Nhưng ông bổ sung khi các anh chị em ông chưa lập gia đình đã cùng bố mẹ tôn tạo, bồi đắp đất, vượt nền mới có được hiện trạng như hiện nay. Xong là con nên ông không có ý kiến gì về phần công sức này.

    Sau khi ông K chết, cháu H ở với vợ chồng ông do mẹ cháu H đi nước ngoài; cháu L3 về bên ngoại. Đến khi mẹ cháu H chết thì hai cháu lúc ở với ông bà nội, lúc ở với vợ chồng ông. Vợ chồng ông là người chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H, cháu L3 cho đến khi các cháu có nhận thức thì về ở hẳn với ông bà nội.

    Đối với đơn khởi kiện của cụ N: Ông mong muốn cụ N, gia đình cháu H, cháu L3 vẫn tiếp tục quản lý sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 196; sau này cụ N chết thì làm nơi thờ cùng, đi lại của đại gia đình. Trường hợp cụ N vẫn cương quyết đề nghị Toà giải quyết thì ông tôn trọng quyết định của cụ N. Nhưng ông đề nghị Toà giải quyết:

    • + Phần di sản ông được nhận thì ông đề nghị Toà chia cho ông bằng đất, ông không lấy bằng tiền;
    • + Kỷ phần thừa kế bà N1 được hưởng, bà đã có ý kiến cho ông, ông nhận và muốn được nhận bằng đất; chia cho hai chị em ông liền với nhau.
    • + Các công trình xây dựng tren đất là tài sản của bố mẹ ông, ông đồng ý với cụ N là đã hết giá trị sử dụng nên khi chia đất tài sản thuộc phần đất của ai thì người đó hưởng; các công trình, tài sản trên thửa đất số 196 do vợ chồng anh H phát triển thì ông tôn trọng ý kiến của vợ chồng anh H.
  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Các bà T, T1, V, L2 và ông M thống nhất trình bày:

      Về quan hệ huyết thống gia đình đúng như cụ N trình bày. Thửa đất số 196; GCNQSDĐ số BV 529542 hiện cụ N, gia đình anh H và chị L3 đang sinh sống. Khi cụ P, vợ chồng ông K còn sống đã họp gia đình và thống nhất miệng (không có văn bản, giấy tờ) là: Có 03 thửa đất thì chia cho 03 người con trai, mỗi người một thửa. Hiện tại ông L1 và ông M đã sử dụng ổn định thửa đất được cho. Còn thửa đất hai cụ sinh sống thì thống nhất cho vợ chồng ông K.

      Thửa đất số 196; GCNQSDĐ số BV 529542 có nguồn gốc là của cụ N, cụ P. Các ông bà đều sinh ra và trường thành chính trên thửa đất này. Sau khi các ông bà lập gia đình, ra ở riêng thì hai cụ và gia đình ông K sinh sống. Đây là tài sản của hai cụ tạo lập mà có, các ông bà không có tôn tạo, đóng góp gì. Trên thửa đất có các tài sản được hình thành và nguồn gốc phát triển đúng như cụ N trình bày .

      Năm 2022, anh H có nguyện vọng xây nhà để có chỗ ở ổn định và để lấy vợ; đồng thời cụ N có mong muốn làm thủ tục tặng cho anh H, chị L3 đứng tên trong Giấy CNQSD đất và định cho ông L1 thêm 100m² để sau này có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng khi cụ N già yếu nhưng ông L1 không đồng ý mà muốn diện tích nhiều hơn. Đây là tâm nguyện lúc cụ P còn sống muốn cho vợ chồng ông K. Nay vợ chồng ông K chết sớm, các con của ông K đã rất thiệt thòi; các ông bà rất muốn anh chị em ngồi lại với nhau để làm thủ tục cho thuận tiện nhưng ông L1 không đồng ý nên cụ N mới phải có đơn khởi kiện đến Toà giải quyết. Các ông bà đề nghị Toà xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của cụ N, cụ P, phần của cụ N trả cho cụ N; phần của cụ P thì chia thừa kế theo pháp luật. Phần các ông bà được chia thừa kế các ông bà thống nhất để lại cho cụ N, cụ N có toàn quyền quyết định; các ông bà tôn trọng quyết định của cụ N. Phần kỷ phần của ông L1, bà N1 được nhận thì sẽ nhận bằng tiền vì các ông bà muốn thửa đất được ổn định; trường hợp phải chia bằng đất thì chia cho cụ N về phía có ngôi nhà vợ chồng anh H xây dựng để thuận tiện sử dụng ổn định lâu dài.

    • 3.2. Bà N1 trình bày: Về quan hệ huyết thống, năm chết của cụ P, của vợ chồng ông K đúng như cụ N trình bày. Bà không muốn cụ N có đơn khởi kiện chia thừa kế mà cụ và gia đình anh H cứ tiếp tục sinh sống cho đến khi cụ N chết là nơi các con cháu quây quần. Trường hợp cụ N vẫn đề nghị chia thừa kế thì phần bà được hưởng, bà cho ông L1.
    • 3.3. Anh H đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của chị L3 trình bày:

      Anh chị là con ông K (chết năm 2003) và bà H1 (chết 2010); bố mẹ anh chị chỉ hai con là anh chị. Về quan hệ huyết thống; nguồn gốc, quá trình xây dựng và phát triển tôn tạo thửa đất số 196 đúng như cụ N trình bày. Đối với yêu cầu khởi kiện của cụ N anh chị có ý kiến như sau:

      • + Anh chị tôn trọng và đồng ý với quan điểm của cụ N
      • + Phần di sản mà anh H, chị L3 được hưởng thừa kế từ ông K thì anh, chị nhập với phần của cụ N, cụ N sẽ là người quản lý sử dụng. Các công trình xây dựng trên đất của vợ chồng anh H, anh H không đề nghị Toà giải quyết mà nhập vào khối tài sản của cụ N, không yêu cầu cụ N phải thanh toán.
      • + Kỷ phần thừa kế bà N1, ông L1 được hưởng thì đề nghị Toà chia bằng tiền; gia đình đã họp thống nhất con cháu của cụ N sẽ góp tiền để cụ N thanh toán kỷ phần cho bà N1, ông L1. Trường hợp không chia bằng tiền thì xin chia phần tài sản của cụ N được hưởng về phía đất có ngôi nhà của vợ chồng anh H xây dựng để tránh ảnh hưởng kết cấu công trình.
    • 3.4. Chị Nguyễn Linh X và đại diện theo uỷ quyền của chị trình bày:

      Chị kết hôn với anh H năm 2022, năm 2023 vợ chồng chị làm thêm tầng 3 của ngôi nhà 2 tầng. Chị tôn trọng và đồng ý với quyết định của cụ N và anh H.

Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ; Biên bản định giá tài sản ngày 11/6/2024. Cấp sơ thẩm đã xác định: Thửa đất số 196; GCNQSDĐ số BV 529542 có diện tích 417,8 m²; Giá trị quyền sử dụng đất là 10.000.000 đồng/m².

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa, thống nhất: Công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất do cụ N, cụ P tạo lập đã xuống cấp, không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng thấp nên không đề nghị Tòa giải quyết. Đối với công trình xây dựng do vợ chồng anh H xây dựng, tôn tạo thì nhập vào phần tài sản của cụ N; anh H, chị X không đề nghị Toà giải quyết.

  • + Cụ N và những người đã tặng kỷ phần mà họ được chia cho cụ N: Đề nghị được thanh toán kỷ phần mà bà N1, ông L1 được hưởng thừa kế bằng tiền.
  • + Ông L1: Đề nghị được nhận kỷ phần mà bà N1, ông L1 được hưởng thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất và đề nghị chia cho ông và bà N1 nhập chung là một diện tích để ông thuận tiện xây nhà thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ.

Đại diện VKSND huyện Ứng Hòa có đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ N. Xác định quyền sử dụng đất tại thửa đất số 196 là tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ P. Giao cho cụ N quản lý sử dụng. Buộc cụ N thanh toán trả cho bà N1, ông L1 mỗi người 232.111.000 đồng.

Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 10/9/2024, TAND huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội đã Quyết định:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Văn N.

  1. Xác định phần tài sản của cụ Nguyễn Văn N trong khối tài sản chung với bà Nguyễn Thị P (vợ cụ N) là ½ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 196 tờ bản đồ 18 diện tích 417,8m² tại thôn M, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BV 529542, số vào sổ cấp GCN: CH12277 do UBND huyện Ứ, thành phố Hà Nội cấp ngày 08/12/2017 cho ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P có giá trị 2.089.000.000 đồng.
  2. Xác định phần di sản thừa kế do cụ Nguyễn Thị P chết để lại (không có di chúc) là ½ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 196 tờ bản đồ 18 diện tích 417,8m² tại thôn M, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội có giá trị 2.089.000.000 đồng.
  3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị L2 và anh Nguyễn Minh H, chị Nguyễn Khánh L3 phần di sản được nhận tặng cho cụ Nguyễn Văn N.
  4. Giao cho cụ Nguyễn Văn N được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất 196 tờ bản đồ 18 diện tích 417,8m² tại thôn M, xã H, huyện Ứ, Hà Nội đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BV 529542, số vào sổ cấp GCN: CH12277 do UBND huyện Ứ, thành phố Hà Nội cấp ngày 08/12/2017 cho ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P.
  5. Cụ Nguyễn Văn N phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị N1 và ông Nguyễn Văn L1 mỗi người 232.111.000đ giá trị tài sản bà N1 và ông L1 được nhận thừa kế.

Bản án còn tuyên về: Quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất; nghĩa vụ do chậm thi hành án; quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận thi hành án của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm. Ông L1 là bị đơn, bà N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quann cùng kháng cáo với lý do: Bản án phân chia còn thiếu di sản của cụ P là diện tích đất nông nghiệp mà cụ P được chia theo lao động từ năm 1992. Ông L1 là con trưởng (nam) chưa có phần đất thờ cúng. Chia kỷ phần của ông L1, bà N1 được hưởng bằng tiền vì không đủ điều kiện tách thửa là chưa thoả đáng. Ông L1, bà N1 đề nghị được hưởng bằng đất mà hai người được hưởng nhập chung để ông L1 làm nơi thờ cúng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo - Ông L1 đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bà N1 trình bày tranh luận:

Cấp sơ thẩm xác định tài sản chung vợ chồng cụ N, cụ P là quyền sử dụng thửa đất số 196; GCNQSDĐ số BV 529542; diện tích 417,8m²; trị giá thành tiền là 4.178.000.000 đồng. Chia tài sản chung vợ chồng cụ N, cụ P mỗi cụ được tương ứng 1/2 của 417,8m² là 208,9m²; giá trị thành tiền là 2.089.000.000 đồng. Chia kỷ phần thừa kế mà ông và bà N1 mỗi người được hưởng tại thửa đất số 196 là 23,21m² đất, giá trị thành tiền là 232.111.000 đồng là đúng.

Nay chỉ kháng cáo đề nghị:

Cấp phúc thẩm xem xét chia thừa kế diện tích đất nông nghiệp mà cụ P được chia theo lao động năm 1992; chia kỷ phần của ông và bà N1 được hưởng nhập chung lại bằng 46,21m² đất, không nhất trí lấy bằng tiền. Trường hợp diện tích 46,21m² đất không đủ điều kiện tách thửa thì đề nghị cụ N chuyển nhượng thêm cho ông để đủ điều kiện tách thửa; Ông sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền cho cụ N. Bà N1 đã ủy quyền cho ông, quan điểm của bà N1 đúng như ý kiến ông đã trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự cho bà N1 vì bà sinh năm 1955 là người cao tuổi.

Cụ N trình bày: Giữ nguyên các quan điểm đã trình bày tại cấp sơ thẩm. Xác định bản án sơ thẩm giải quyết đúng pháp luật; Không nhất trí việc ông L1 đề nghị cụ chuyển nhượng thêm đất cho ông L1, bà N1. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của ông L1, bà N1.

Anh H trình bày: Nhất trí toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của ông L1, bà N1.

Các đương sự không kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa không gửi văn bản trình bày quan điểm ý kiến của họ với Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên VKSND Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm: Sau khi đánh giá phân tích về nội dung vụ án theo Bản phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông L1, bà N1.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng

    Tòa án cấp sơ giải quyết vụ án đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

    • - Người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
    • - Bà N1 là người kháng cáo vắng mặt, nhưng có ông L1 là người đại diện theo ủy quyền của bà có mặt. Các đương sự khác không kháng cáo vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành phiên tòa phúc thẩm lần thứ 2 vắng mặt họ.
  2. Về Nội dung:

    2.1. Những nội dung được cấp sơ thẩm xác định, các đương sự thừa nhận và không kháng cáo; không có kháng nghị. Cụ N và cụ P là vợ chồng. Cụ P chết ngày 01/10/2018 không để lại di chúc; thời điểm mở thừa kế của cụ P là ngày cụ chết. Cụ N yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ P là trong thời hiệu khởi kiện. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ P gồm: Cụ N; Các bà N1, T, T1, V, L2; Các ông L1, Mão, K - ông K chết ngày 01/08/2003, chết trước cụ P nên anh H và chị L3 là người thừa kế thế vị ông K. Di sản của cụ P tại thửa đất số 196 là 208,9m² đất, trị giá thành tiền là 2.089.000.000 đồng được chia cho 9 kỷ phần thừa kế thứ nhất của cụ P; Mỗi kỷ phần được hưởng thừa kế tại thửa đất số 196 là 23,21m² đất, giá trị thành tiền là 232.111.000 đồng. Các bà T, T1, V, L2, ông M và người thừa kế thế vị của ông K giao kỷ phần mà họ được hưởng thừa kế từ cụ P cho cụ N; Các công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất do cụ N, cụ P tạo lập đã xuống cấp, không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng thấp không đề nghị Tòa giải quyết; Vợ chồng anh H - chị X không yêu cầu cụ N phải thanh toán giá trị các tài sản trên đất mà anh chị phát triển trên đất giao cho cụ N; Cụ N và gia đình anh H là người trực tiếp quản lý khối di sản của cụ P nhưng không có yêu cầu thanh toán công sức.

    Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét lại các nội dung này.

    2.2. Xét kháng cáo của ông L1, bà N1.

    Ông L1 là nguyên đơn; bà N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo cùng nội dung nên được xét chung. Cụ thể:

    Mặc dù ông L1 và bà N1 cho rằng Tòa án chưa giải quyết phân chia đối với di sản của cụ P để lại là phần diện tích đất nông nghiệp mà cụ P được chia theo lao động từ năm 1992. Tuy nhiên: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, cụ N chỉ yêu cầu Tòa án phân chia di sản của cụ P để lại tại thửa đất số 196; ngoài ra không yêu cầu phân chia di sản nào khác của cụ P.

    Tại Thông báo thụ lý vụ án số 38/2024/TB- TLVA ngày 20/5/2024 tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã nêu rõ yêu cầu khởi kiện của cụ N và xác định: “Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo này, các đương sự phải nộp (gửi) cho Tòa án văn bản nêu ý kiến, quan điểm của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có); Yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có)”. Quá trình giải quyết vụ án, ông L1 không có yêu cầu phản tố, bà N1 hoặc các đương sự khác được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên không có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án xem xét giải quyết đối với di sản khác của cụ P. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ giải quyết trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó nội dung kháng cáo này của ông L1, bà N1 là không có căn cứ. Trường hợp ông L1, bà N1 thấy cụ P còn để lại khối di sản khác chưa được phân chia thừa kế có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

    Đối với yêu cầu kháng cáo đề nghị được hưởng chung bằng hiện vật: Căn cứ quy định tại Quyết định 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/6/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H thì diện tích tối thiểu đất ở hình thành từ tách thửa đất ở tại thôn M, xã H (nay là xã H), huyện Ứ, Hà Nội (xã vùng đồng bằng) không dưới 80m². Kỷ phần thừa kế ông L1, bà N1 được hưởng (23,21m² đất x 2 kỷ phần) là 46,42 m² thấp hơn mức tối thiểu 80m² không đủ điều kiện để được tách thửa. Mặt khác: Căn cứ vào thực tế sử dụng ổn định của các đương sự thì phần diện tích đất đang tranh chấp do cụ N đang sử dụng ổn định và có nhiều công trình xây dựng trên đất không thể tách rời. Bà N1, ông L1 đều đã có nơi ở khác ổn định. Việc ông L1 đề nghị cụ N chuyển nhượng thêm đất cho ông L1 để đủ điều kiện tách thửa không được cụ N chấp nhận. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm giao toàn bộ phần diện tích đất đang tranh chấp cho cụ N, buộc cụ N thanh toán lại giá trị kỷ phần thừa kế cho ông L1, bà N1 bằng tiền là phù hợp với quy định của pháp luật.

    Từ những phân tích nhận định trên. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông L1, bà N1.

    Tuy nhiên do ông L1, bà N1 kháng cáo toàn bộ bản án. Cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015 về người thừa kế thế vị; bà N1 sinh năm 1955 là người cao tuổi, không được cấp sơ thẩm miễn án phí dân sự; Nay ông L1 đại diện theo ủy quyền của bà xin được miễn án phí dân sự. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm: Bổ sung Điều luật áp dụng. Sửa lại cách tuyên án tại phần Quyết định của bản án và miễn án dân sự cho bà N1.

  3. Về án phí:

    3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm. Giữ nguyên quyết định miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với cụ N, ông L1. Sửa án phí sơ thẩm đối với bà N1; Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà N1.

    3.2. Về án phí phúc thẩm: Do sửa án nên ông L1, bà N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Được hoàn trả lại tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.

    Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L1, bà N1 là đúng pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Các Điều: 147,148; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Các Điều: 609,610,611,612,613,623,649,650,651,652,660 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Điều 2 Luật người cao tuổi.
  • - Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/6/2017 của UBND Thành phố H.

Xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị N1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của TAND huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Văn N.

  1. Xác định Quyền sử dụng thửa đất 196, tờ bản đồ 18 diện tích 417,8m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BV 529542, số vào sổ cấp GCN: CH12277 do UBND huyện Ứ, Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/12/2017 cho ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P tại: Thôn M, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội trị giá 4.178.000.000 đồng là tài sản chung vợ chồng cụ Nguyễn Văn N - cụ Nguyễn Thị P.
    • 1.1. Ghi nhận các đương sự cùng không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết các tài sản gắn liền trên đất và công sức tôn tạo, duy trì khối tài sản thửa đất số 196 tờ bản đồ 18; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BV 529542 do vợ chồng cụ Nguyễn Văn N - cụ Nguyễn Thị P phát triển và do gia đình anh Nguyễn Minh H - chị Nguyễn Linh X phát triển.
    • 1.2. Ghi nhận việc vợ chồng anh Nguyễn Minh H - chị Nguyễn Linh X tự nguyện giao cho cụ Nguyễn Văn N các tài sản gắn liền trên đất, công sức tôn tạo, duy trì khối tài sản của vợ chồng anh chị tại thửa đất số 196 tờ bản đồ 18; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BV 529542 mà không phải thanh toán giá trị bằng tiền.
    • 1.3. Chia tài sản chung vợ chồng cụ Nguyễn Văn N - cụ Nguyễn Thị P tại thửa đất số 196 tờ bản đồ 18; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BV 529542; tại địa chỉ: Thôn M, xã H (N là xã H), huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; mỗi cụ được chia trị giá thành tiền là 2.089.000.000 đồng;
  2. Chia di sản thừa kế do cụ Nguyễn Thị P để lại theo pháp luật.
    • 2.1. Xác định: Cụ Nguyễn Thị P chết ngày 01/10/2018 không để lại di chúc; thời điểm mở thừa kế của cụ P là ngày cụ chết. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Thị P gồm: Cụ Nguyễn Văn N; Các bà Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L2; Các ông Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn K do và chị Nguyễn Linh X là người thừa kế thế vị ông K. Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị P để lại tại thửa đất số 196 tờ bản đồ 18; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BV 529542; tại địa chỉ: Thôn M, xã H (N là xã H), huyện Ứ, Thành phố Hà Nội trị giá thành tiền 2.089.000.000 đồng.
    • 2.2. Chia thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thị P để lại theo pháp luật cho 09 kỷ phần thừa kế thứ nhất của cụ P, gồm: Cụ Nguyễn Văn N; Các bà Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L2; Các ông Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn K (Do anh Nguyễn Minh H và chị Nguyễn Khánh L3 là người thừa kế thế vị ông K). Mỗi kỷ phần được hưởng trị giá thành tiền là 232.111.000 (Hai trăm ba mươi hai triệu, một trăm mười một nghìn) đồng.
    • 2.3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn M; các bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L2 và anh Nguyễn Minh H, chị Nguyễn Khánh L3 cùng tặng cho kỷ phần mà họ được chia thừa kế từ di sản của cụ Nguyễn Thị P cho cụ Nguyễn Văn N được hưởng.
  3. Chia (Giao) cho cụ Nguyễn Văn N được quản lý sử dụng 417,8m² đất và sở hữu toàn bộ các tài sản khác gắn liền trên đất tại thửa đất 196, tờ bản đồ 18 diện tích 417,8m² tại địa chỉ: Thôn M, xã H (N là xã H), huyện Ứ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BV 529542, số vào sổ cấp GCN: CH12277 do UBND huyện Ứ, Thành phố Hà Nội cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P ngày 08/12/2017.

    Cụ Nguyễn Văn N có quyền, nghĩa vụ chủ động liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký, kê khai xin cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất (hoặc đính chính chủ sử dụng, chủ sở hữu) đối với khối tài sản được chia (giao) tại khoản 3 Quyết định của bản án theo quy định pháp luật.

  4. Buộc cụ Nguyễn Văn N phải thanh toán trả:
    • 4.1. Bà Nguyễn Thị N1 232.111.000 (Hai trăm ba mươi hai triệu, một trăm mười một nghìn) đồng kỷ phần thừa kế mà bà N1 được hưởng.
    • 4.2. Ông Nguyễn Văn L1 232.111.000 (Hai trăm ba mươi hai triệu, một trăm mười một nghìn) đồng kỷ phần thừa kế mà ông L1 được hưởng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành. Nếu người phải thi hành án nghĩa vụ trả tiền chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì còn phải chịu lãi đối với số tiền chưa thi hành xong theo mức lãi suất 10%/năm (Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015).

  5. Về án phí:
    • 5.1. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị N1.
    • 5.2. Ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
    • - Hoàn trả ông Nguyễn Văn L1 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011943 ngày 23/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội.
    • - Hoàn trả bà Nguyễn Thị N1 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011944 ngày 24/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND huyện Ứng Hòa;
  • - CCTHADS huyện Ứng Hòa;
  • - Lưu HS, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 78/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Nguyễn Văn N Bị đơn: Nguyễn Văn L1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger