Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BẢN ÁN SỐ: 78/2024/HS-ST

NGÀY: 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.

Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quốc Đạt và ông Bùi Thế Vịnh.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên Tòa:

Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lạng Giang. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1997. Tên gọi khác: Không;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Bố đẻ: Hoàng Văn Q, sinh năm 1972; Mẹ đẻ: Hoàng Thị T1, sinh năm 1974; Gia đình có 02 anh em, bản thân là thứ nhất; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1999; Con: có 01 con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L - (Có mặt tại phiên tòa).

+ Người chứng kiến:

  1. Ông Đỗ Huy H1, sinh năm 1965 – (vắng mặt).
  2. Anh Đặng Văn Q1, sinh năm 1981 – (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 24/6/2024, T đi xe ô tô khách xuống ngã 6 thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến ngã 6 thành phố B, T đã mua được 1.700.000 đồng gồm ma tuý “đá” và ma tuý “ngựa” của một người đàn ông không quen biết chạy xe ôm. Sau khi mua ma tuý xong, T cất ma tuý vào túi quần T đang mặc rồi đi xe ô tô khách về phòng trọ tại khu N thuộc tổ dân phố P, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khi về đến phòng trọ, T bỏ một ít ma tuý vừa mua được ra sử dụng một mình. Đến khoảng gần 11 giờ ngày 25/6/2024, T cất một túi ma tuý “đá” và một túi ma tuý “ngựa” ở túi quần phía trước bên phải T đang mặc rồi đi bộ từ phòng trọ ra ngoài đường sau đó đi nhờ xe của một người không quen biết từ khu phòng trọ của Trường S chơi. Khi đi đến gần cổng Nhà trọ S thuộc thôn T, xã T, huyện L thì T xuống xe đi bộ một mình, khi đang đi bộ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng gồm:

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc: 01 (một) túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong túi chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng “đá”; 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong túi chứa các mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn T. Kết quả, không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại Kết luận giám định số 1416/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong có gửi giám định:

  • Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng được hàn kín là ma tuý, có khối lượng 0,186 gam, loại Methamphetamine.
  • Các mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có khối lượng 0,108 gam loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 22/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố Hoàng Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện VKSND Huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và

đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS: Tuyên phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/6/2024, miễn phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Ngoài ra vị đại diện VKS còn đề nghị HĐXX xử lý về vật chứng và án phí của vụ án.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm có điều kiện trở về đoàn tụ cùng gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo, của người chứng kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Hoàng Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng đã thu giữ trong vụ án. HĐXX có đủ cơ sở xác định: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 25/6/2024, tại đoạn đường trước cổng Nhà trọ S thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang Hoàng Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,294 gam ma tuý, loại Methamphetamine thì bị Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an huyện L phối hợp với Công an xã T bắt quả tang. T khai, mục đích tàng trữ số ma tuý trên để sử dụng.

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù:

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XRL- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Như vậy, HĐXX thấy đã có đủ căn cứ kết luận Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hoàng Văn T thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an ở địa phương, phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm nguy hiểm khác như: giết người, cướp tài sản, trộm cắp...Từ nghiện ma tuý làm suy thoái đạo đức giống nòi, ảnh hưởng kinh tế, sức khoẻ, hạnh phúc gia đình. Tại địa bàn huyện L tệ nạn xã hội về ma tuý vẫn đang là một điểm nóng, cán bộ và quần chúng nhân nhân dân địa phương hết sức lo lắng và lên án. Do đó phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Hiện bị cáo đang bị tạm giam. Để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX xét cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo quy định tại Điều 329 BLTTHS.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng cần xử lý gồm:

  • 01 (một) 01 phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an thị trấn K, L, Bắc GiangPhòng K - Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định. Đây là tang vật vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 chiếc điện thoại di động NOKIA là của T không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo sử dụng, song tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

[8] Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Hoàng Văn T, ngày 09/7/2024, Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi này.

Tại phiên tòa những người chứng kiến trong vụ án đã được triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do. HĐXX thấy sự vắng mặt của người tham gia tố tụng này không ảnh hưởng tới việc xét xử đối với vụ án và bị cáo. Do vậy, HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[9] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

2. Về hình phạt :

Xử phạt Hoàng Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/6/2024.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy hoàn lại sau giám định; Trả lại cho Hoàng Văn T 01 điện thoại di động nhãn nhiệu NOKIA, vỏ máy màu đen, màn hình bị rạn nứt, máy cũ đã qua sử dụng; Số IMEL 1: 353182113365141/59; SỐ IMEL 2: 353182113365158/59, song tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Đặc điểm của các loại vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).

4. Án phí:

Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND, Sở TP tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND, Công an huyện Lạng Giang;
  • - Chi Cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Trường - Tàng trữ trái phép chất ma túy K1 Đ 249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger