|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày: 26-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Minh Chính.
- Bà Hồ Thị Thúy Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
1, H và tên: Nguyễn Đình C (tên gọi khác: không); sinh năm: 1987 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình L và bà: Đậu Thị T; vợ: Hồ Thị Thi T1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 04 (bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, về tội “Đánh bạc” (bản án số 50/2016/HS-ST); tạm giữ, tạm giam: từ ngày 05/3/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2, Họ và tên: Nguyễn Văn S (tên gọi khác: không); sinh năm: 1988 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn P (chết) và bà: Trương Thị Đ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 05/3/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Phạm Xuân C1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Vũ Minh K, sinh năm 1985. Nơi cư trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đình L1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Hồ Thị Thi T1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình đi làm công nhân tại khu công nghiệp T, Nguyễn Đình C quen người đàn ông tên T2. C sử dụng tài khoản zalo “Chiến Thi” được đăng ký bằng số điện thoại 0977.850.xxx để liên lạc với zalo “Anh Tuấn” được đăng ký bằng số điện thoại 0362.849.xxx của T2 để mua ma túy.
Khoảng giữa tháng 02/2024, C gọi điện thoại cho T2 hỏi mua 2.000.000₫ (hai triệu đồng) ma túy hồng phiến, T2 đồng ý bán cho C 30 (ba mươi) viên ma túy hồng phiến và cho C 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu đen gắn sim số 0362849565, tài khoản zalo “Anh T3” để C phục vụ việc mua bán ma túy. Sau đó, C đổi tên tài khoản zalo “Anh T3” sang tên “Chien1992” để tiện liên lạc mua bán ma túy.
Khoảng 22h giờ ngày 03/3/2024, Nguyễn Văn S sử dụng số điện thoại 0973.933.xxx gọi đến số điện thoại 0362.849.xxx của C hỏi mua 1.000.000đ (một triệu đồng) ma túy. S sử dụng số tài khoản 0973933987 Ngân hàng M mang tên Nguyễn Văn S chuyển số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) vào tài khoản 102872918200 Ngân hàng V mang tên Nguyễn Đình C. Nhận được tiền, C lấy 13 (mười ba) viên ma túy hồng phiến bỏ vào trong 01 (một) gói nilon màu trắng đưa đến đặt ở trên bờ tường gần nhà để xe trường THPT Q 2 thuộc thôn H, xã Q, huyện Q và gửi vị trí cho S đến lấy. Sau khi lấy được ma túy S đã sử dụng hết.
Khoảng 14h30 phút ngày 04/3/2024, C sử dụng số điện thoại 0362.849.xxx gọi điện thoại cho T3 đặt mua 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) ma túy, T3 đồng ý và hẹn C đi đến chợ chiều thuộc thôn A, xã Q lấy ma túy. C đi đến điểm hẹn lấy 35 (ba mươi lăm) viên ma túy hồng phiến. Về nhà, C sử dụng 06 (sáu) viên, số còn lại C bỏ trong 01 (một) gói nilon với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 21h cùng ngày, S sử dụng số điện thoại 0973.933.xxx gọi đến số điện thoại 0362.849.xxx của C hỏi mua 1.000.000đ (một triệu đồng) ma túy, C đồng ý và hẹn S đến khu vực Trạm y tế xã Q để lấy ma túy. S điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 37L1-366.82 đến điểm hẹn, S đưa 1.000.000₫ (một triệu đồng) cho C, C giao 01 (một) túi nilon bên trong có 13 (mười ba) viên nén hình tròn màu hồng cho S. S cầm gói ma túy đi về đến ngõ X, xã Q, huyện Q thì bị tổ công tác Công an huyện Q và Công an xã Q bắt quả tang, thu giữ 01 (một) gói nilon bên trong có 13 (mười ba) viên ma túy hồng phiến, 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A02s, 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen biển kiểm soát 37L1-366.82.
Đến khoảng 01h20 phút ngày 05/3/2024, C bị tổ công tác Công an huyện Q và Công an xã Q quả tang, thu giữ 01 (một) gói nilon chứa 13 (mười ba) viên ma túy hồng phiến, 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo A16K, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RXS màu đen biển kiểm soát 37L1-610.30, số tiền 1.875.000₫ (một triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu đen C vứt xuống ruộng lúa.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định.
Bản kết luận giám định số 311/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 12/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng hình tròn thu giữ của Nguyễn Đình C gửi đến giám định là ma túy, thuộc loại Methamphetamine. 13 (mười ba) viên nén màu hồng thu giữ của C có tổng khối lượng là 1,29 g (một phẩy hai mươi chín gam).
Bản kết luận giám định số 312/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 12/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng hình tròn thu giữ của Nguyễn Văn S gửi đến giám định là ma túy, thuộc loại Methamphetamine. 13 (mười ba) viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn S có tổng khối lượng là 1,26 g (một phẩy hai mươi sáu gam).
Quá trình điều tra xác định: ngày 03/3/2024, C bán cho S 13 (mười ba) viên ma túy hồng phiến với giá 1.000.000đ (một triệu đồng), S đã sử dụng hết. 13 (mười ba) viên ma túy bán cho S ngày 03/3/2024, 13 (mười ba) viên ma túy bán cho S ngày 04/3/2024 và 13 (mười ba) viên ma túy C bị bắt quả tang ngày 05/3/2024 đều có nguồn gốc C mua của T3, cùng chủng loại, cùng đặc điểm. Nên xác định 13 (mười ba) viên ma túy C bán cho S ngày 03/3/2024 có khối lượng (2,55 gam : 26 viên) x 13 viên = 1,275 gam. Tổng khối lượng ma túy Methamphetamine C2 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là 3,825 gam. Sỹ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là 1,26 gam ma túy Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 80/CT-VKS-QL ngày 25/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Nguyễn Đình C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 08 năm - 08 năm 06 tháng tù.
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 18-21 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì thư bưu điện bên trong chứa số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu đen của bị cáo Nguyễn Đình C không còn giá trị sử dụng; Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A02s màu xanh của bị cáo Nguyễn Văn S. Trả lại 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen, biển kiểm soát 37L1-366.82 cho ông Phạm Xuân C1; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX màu đen trắng mang biển kiểm soát 37L1-610.30 cho ông Vũ Minh K; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo A16K màu đen cho bà Hồ Thị Thi T1. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 875.000 đồng thu giữ của Nguyễn Đình C; truy thu Nguyễn Đình C số tiền 1.125.000 đồng tiền thu lợi bất chính; Trả lại cho Nguyễn Đình C số tiền 1.000.000 đồng nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.
Án phí: buộc các bị cáo Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: rất hối hận, xin mức án nhẹ nhất để cải tạo sớm trở về làm người có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn S khai nhận hoàn toàn hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận để có ma túy sử dụng và bán lại kiếm lời, khoảng tháng 02/2024, C mua 30 (ba mươi) viên ma túy hồng phiến với giá 2.000.000đ (hai triệu đồng) của T3, ngày 03/3/2024 bán lại cho S 13 (mười ba) viên với giá 1.000.000đ (một triệu đồng); ngày 04/3/2024, C mua 35 (ba mươi lăm) viên ma túy hồng phiến của T3 với giá 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng), bán cho S 13 (mười ba) viên với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Tổng khối lượng ma túy C bán cho S 2,535 gam, C bị tổ công tác Công an huyện Q và Công an xã Q quả tang vào lúc 01h25 phút ngày 05/3/2024. S có hành vi cất dấu 13 (mười ba) viên ma túy Methamphetamine có khối lượng 1,26 gam bị bắt quả tang vào lúc 21h40 phút ngày 04/3/2024hh. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền, thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo C mua ma túy của T3 và bán lại cho S 02 lần nên phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo S cất dấu ma túy có khối lượng 1,26 gam nên bị truy tố theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, làm suy kiệt kinh tế của mỗi gia đình, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo cho phù hợp, như thế mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Các bị cáo phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo C đang trực tiếp thờ cúng chú ruột là Liệt sĩ Nguyễn Đình Lữ . Bị cáo C có nhân thân xấu, phạm tội rất nghiêm trọng nên hình phạt phải cao hơn bị cáo S phạm tội nghiêm trọng. Xử phạt các bị cáo với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[4] Hình phạt bổ sung: xét các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị xử phạt tù, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Xử lý vật chứng: 24 viên ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định là chất cấm, vỏ phong bì đã mở niêm phong, vỏ gói giấy màu trắng, vỏ gói nilong màu trắng là vật không có giá trị sử dụng, được bỏ vào 02 (hai) phong bì niêm phong, tịch thu tiêu hủy. Điện thoại các bị cáo sử dụng liên lạc phạm tội nên tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu đen của bị cáo Nguyễn Đình C; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A02s màu xanh của bị cáo Nguyễn Văn S. Xe máy, điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, trả lại 01 (một) xe máy YAMAHA Sirius màu đen, biển kiểm soát 37L1-366.82 cho ông Phạm Xuân C1; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX màu đen trắng mang biển kiểm soát 37L1-610.30 cho ông Vũ Minh K; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo A16K màu đen cho bà Hồ Thị Thi T1. Bị cáo C bán ma túy cho bị cáo S thu lợi số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), xét đây là tiền do mua bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Số tiền 1.875.000 đồng thu giữ của Nguyễn Đình C có 875.000 đồng là tiền bán ma túy và 1.000.000 đồng tiền Chiến lao động mà có, nên truy thu số tiền 875.000 đồng, trả lại số tiền 1.000.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội cho C. Truy thu số tiền 1.125.000 đồng của bị cáo C.
[6] Những vấn đề khác: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Xuân C1, ông Vũ Minh K, bà Hồ Thị Thi T1, không biết các bị cáo sử dụng tài sản của mình làm phương tiện trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên không bị xử lý. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh người đàn ông tên T3 bán ma túy cho bị cáo C, người giao ma túy cho C, người nhờ bị cáo S mua ma túy, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên không có căn cứ để xử lý.
[7] Về án phí: các bị cáo Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 08 (tám) năm tù, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 05/3/2024).
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 18 (mười tám) tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 05/3/2024).
2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì thư bưu điện có viền xanh đỏ. Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu đen của bị cáo Nguyễn Đình C; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A02s màu xanh của bị cáo Nguyễn Văn S. Trả lại 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen, biển kiểm soát 37L1-366.82 cho ông Phạm Xuân C1; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX màu đen trắng mang biển kiểm soát 37L1-610.30 cho ông Vũ Minh K; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo A16K màu đen cho bà Hồ Thị Thi T1. Tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
Số tiền 1.875.000đ (một triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình C hiện đang được tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047949.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu tại K huyện Q theo Giấy nộp tiền ngày 25/7/2024 của Ngân hàng C3, được xử lý như sau: tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 875.000đ (tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), trả lại cho Nguyễn Đình C số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Truy thu Nguyễn Đình C số tiền 1.125.000đ (một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn S, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Ch và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
