Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 21-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Toàn
  2. Bà Phạm Thị Bích Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/TLST-HS, ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1994, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh L và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Lê Thị Hồng H1 và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/12/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Trần Tấn L1, sinh năm 2000 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Huỳnh Thanh T, sinh năm 1976 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  3. Trần Hoài V, sinh năm 1997 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  5. Lâm Phi C, sinh năm 1996 (có mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  7. Trần Thị Ngọc L2, sinh năm 1988 (có mặt)
  8. Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận

Người làm chứng:

  1. Ngô Thị Mỹ L3, sinh năm 1982 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn An Lạc, xã Bình An, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận

  3. Huỳnh Minh T1, sinh năm 2002 (có mặt)
  4. Trần Duy K, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  5. Sú Mằn P, sinh năm 1998 (vắng mặt)
  6. Cùng địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  7. Trần Duy B, sinh năm 1993 (có mặt)
  8. Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  9. Lê Thị Hồng H1, sinh năm 2000 (có mặt)
  10. Phạm Đức T2, sinh năm 1977 (có mặt)
  11. Cùng địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  12. Nguyễn Mạnh K1, sinh năm 1982 (có mặt)
  13. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thanh T (thường gọi là B1) và Huỳnh Văn H là hai anh em ruột; Ngô Thị Mỹ L3 là vợ của Huỳnh Thanh T; Lê Thị Hồng H1 là vợ của Huỳnh Văn H.

Trần Thị Ngọc L2 (tên thường gọi S) là chị ruột của Trần Hoài VTrần Duy B; Lâm Phi C là cháu rể của L2; Nguyễn Trần Tấn L1, Sú Mằn P1 (tên thường gọi M) và Nguyễn Trần Bích L4 (thường gọi Bé N1) là cháu ruột của L2.

Vào khoảng hơn 18 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, Trần Thị Ngọc L2 điều khiển xe mô tô chở theo 02 đứa con của L2 đến nhà của ông Phạm Thế B2 (thường gọi Chín) ở thôn H, xã H, huyện B để chơi. Khi đến thì thấy B2 đang cãi nhau với Phạm Đức T2 nên L2 đứng ở cửa nhà B2 để xem, cùng lúc này Huỳnh Thanh TNguyễn Mạnh K1 (thường gọi Bi Cận) cũng đi đến nhà của B2 thấy L2 đứng ở cửa nên T nói với L2 “hai đứa mày đi về đi”. Nghe T nói vậy L2 nói lại “ta đứng đây kệ ta, một bên là cháu ruột, một bên là em mà ổng kêu ta về không”. Nghe L2 nói vậy thì T đi đến chỗ L2 nói “ĐM mày muốn gì”, đồng thời dùng tay tát vào mặt của L2 nên L2 dùng tay đánh lại T. Sau đó, cả hai lao vào dùng tay đánh nhau thì được mọi người can ngăn ra. Lúc này, Trần Hoài VTrần Duy B nghe được thông tin L2 bị đánh nên điều khiển xe mô tô đến nhà B2 để can ngăn và chở L2 về nhà, còn Huỳnh Thanh T, Nguyễn Mạnh K1Phạm Đức T2 đi về lại nhà T.

Sau khi về đến nhà của L2 (L2 và V sống cùng một nhà với mẹ ruột) thì Trần Duy B đi về nhà của B rồi đi ra ruộng cột bò, còn L2 đứng trước sân nhà của mình khóc lóc, chửi bới và kể với mọi người sống gần nhà L2 về việc không rõ vì sao T dùng tay đánh L2. Thấy vậy, V hỏi L2 thì L2 kể lại sự việc nên V lấy xe mô tô điều khiển chở L2 quay lại nhà của T để hỏi lý do vì sao đánh L2.

Trong khi L2 và V nói chuyện thì Huỳnh Thanh H2 đang ngồi uống trà trước sân nhà của mình (nhà H2 cách nhà L2 khoảng hơn 20m) nghe rõ toàn bộ nội dung nói chuyện giữa L2 và V. Sau khi V chở L2 đi thì H2 suy nghĩ nhóm của L2 xuống nhà T để đánh anh trai mình nên Huỳnh Văn H vào nhà lấy xe mô tô để đi xuống nhà T mục đích nếu có đánh nhau thì sẽ can ngăn. Thấy H dắt xe ra đi nên vợ H là Lê Thị Hồng H1 hỏi đi đâu thì H1 nói đi xuống nhà anh T để ngăn cản việc đánh nhau vì có người đến đánh anh T, nghe nói vậy nên Lê Thị Hồng H1 xin đi cùng.

Sau khi V chở L2 đi thì Trần Duy B đi cột bò về lại nhà của mình ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong thì nghe được thông tin tại nhà T đang có cãi nhau nên liền vào nhà dắt xe mô tô điều khiển để đến nhà T. Khi vừa dắt xe ra cổng thì gặp Nguyễn Trần Tấn L1 thì L1 hỏi B đi đâu, B nói “Lúc chiều D Sáu mày gây lộn với ông B1, cậu chạy xuống nhà ông B1 xem có dưới đó hay không”. Nghe B nói vậy thì L1 nói đi cùng. Sau đó, B để xe của mình lại rồi lên xe của L1 để L1 chở đi, khi đi thì L1 cầm theo 01 cây dao tự tạo (có kích thước dài 75cm, cán làm bằng ống sắt được quấn băng keo màu đen dài 25cm, lưỡi làm bằng sắt dài 50cm), B cầm theo 01 cây dao tự tạo (không xác định được kích thước).

Đối với L2V khi điều khiển xe mô tô đến Ngã ba đường về B và đường về P thì gặp Sú Mằn P1, Nguyễn Trần Bích L4 thì L2 có kể cho P1L4 về việc hồi chiều bị T dùng tay đánh vào mặt nên L4 và P1 xin đi cùng xuống nhà T để nói chuyện cho rõ ràng. Khi L2, V, P1, L4 vừa điều khiển xe mô tô đến trước nhà của Huỳnh Thanh T thì Lâm Phi C đang trên đường chạy từ nhà của mình ở xã P về lại nhà của vợ ở xã B khi đi ngang qua thấy anh và vợ của mình đang đứng trước nhà T nên dừng lại hỏi chuyện thì được L2 kể lại toàn bộ sự việc L2 bị T đánh trước đó nên C đồng ý đi vào nhà T để nói chuyện.

Tại thời điểm này, Huỳnh Thanh T, Nguyễn Mạnh K1, Phạm Đức T2, Ngô Thị Mỹ L3, Huỳnh Minh T1 là con ruột của T và Trần Duy K đang ngồi uống nước trong nhà T. Khi thấy nhóm của L2 đi vào trong cổng nhà của T thì T liền đi ra, lúc này V đến nói với T “Sao ông là đàn ông mà lại đi đánh phụ nữ” thì T trả lời “Tao có tát 01 cái vào mặt chị mày thì tao xin lỗi”. Nghe T nói vậy, C liền nói “ông nghĩ sao con trai mà đánh con gái vậy, tôi đánh lại ông 0 cái ông chịu được không”. Nói xong thì C liền dùng tay đánh 01 cái vào mặt T làm T té ngã xuống nền sân xi măng. Sau đó, L2 định lao vô đánh T thì bà Ngô Thị Mỹ L3 lao đến dùng tay đánh nhau với L2. Sau khi T té ngã thì liền đứng dậy chạy vào nhà lấy 01 cây liềm róc cành thanh long (có kích thước dài 1,3m, cán làm bằng gỗ dài 1,15m, lưỡi làm bằng sắt có răng cưa dài 15cm) chạy ra. Thấy T cầm hung khí chạy ra nên nhóm của L2 bỏ chạy ra ngoài đường phía trước cổng nhà T. Khi vừa ra khỏi cổng nhà của T thì V liền nhặt 01 một cây gỗ bạch đàn (có kích thước dài 3,86m, đường kính 9,7cm), C nhặt 01 cây gỗ vuông (không xác định được kích thước) có sẵn phía trước nhà của T (những cây gỗ dùng để chống cây cảnh phía trước nhà) rồi cùng lao đến đánh từ trên xuống dưới vào hướng người của T, trong đó V đánh trước 01 cái vào hướng đầu thì T đưa cây liềm lên đỡ làm cho cây liềm bị gãy, lưỡi liềm văng trúng vào vai phải của T gây thương tích. Sau khi V đánh gẫy cây liềm thì C tiếp tục dùng cây gỗ vuông đánh thêm 01 cái trúng vào giữa trán T gây thương tích kéo dài từ đỉnh trán xuống giữa trán. Thấy T bị đánh thì Nguyễn Mạnh K1, Huỳnh Minh T1, Phạm Đức T2 lao đến can ngăn VC ra. Trong quá trình can ngăn thì K1 bị C đánh trúng 01 cái vào đầu, V đánh trúng 01 cái vào vai. Sau khi T bị VC đánh gây thương tích thì T chạy vào nhà dùng vải băng vết thương trên đầu lại.

Sau khi T vào nhà băng vết thương khoảng 05 phút xong thì cùng lúc đó L1 chở B cũng vừa đến trước cổng nhà T, thấy nhóm của L2 càng đông người hơn nên T liền ra phía hông nhà lấy 01 cây mỏ gãy (loại cây dùng chia rơm có kích thước dài 2,12m, cán làm bằng gỗ dài 1,77m được nối với thanh sắt có 02 mũi nhọn chĩa ra phía trước dài 35cm) chạy ra lại trước cổng nhà thì BL1 cầm dao chạy đến phía T, khi đến gần T thì B dùng dao chém T 01 cái trúng vào lưng của T thì T liền dùng cây mỏ gãy đâm B 01 cái trúng vào bụng của B. Đồng thời cùng lúc này, Huỳnh Văn H chở vợ Lê Thị Hồng H1 đến gần nhà T thấy đánh nhau rất lộn xộn nên H1 nói vợ đứng phía bên quán trà sữa gần đối diện nhà T, còn H1 đi bộ đến phía trước cổng nhà T thì thấy L1 đang cầm dao lao đến chỗ T nên H1 đi đến để can ngăn lại thì bị L1 dùng dao chém sợt 01 cái trúng vào vai không gây thương tích gì, do bị chém nên H1 tức giận chạy vào nhà T lấy 01 cây dao thái lan (có kích thước dài 18,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 8,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 10cm) để trên đầu tủ rồi chạy ra lại chỗ L1 mục đích để đánh nhau với L1. Thấy vậy, L1 tiếp tục dùng dao chém 01 cái về hướng H1 thì H1 giơ tay trái lên đỡ trúng vào giữa ngón tay cái và ngón trỏ gây thương tích, đồng thời H1 giữ chặt tay cầm cây dao của L1 và kéo L1 vào sát người H1 rồi dùng cây dao thái lan đâm 01 cái từ trên xuống dưới trúng vào cung đuôi mày mắt trái của L1 và tiếp tục đâm ngược lên 01 cái trúng vào bụng của L1 gây thương tích.

Ngoài ra Huỳnh Thanh T còn khai, khi vừa ra cổng thì bị V tiếp tục dùng cây bạch đàn đánh 01 cái vào đỉnh đầu và 01 cái vào mắt cá chân trái gây thương tích.

Sau khi cả hai nhóm lao vào đánh nhau dẫn đến L1, B, T, H1 đều bị thương thì được người thân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ và Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ. Sau khi xuất viện về nhà thì L1, B, T, H1Trần Thị Ngọc L2 đều có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để xử lý người gây thương tích cho mình theo quy định của pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 433/KLTTCT-TTPYBT ngày 18/07/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của ông Huỳnh Thanh T như sau:

- Vết thương phần mềm vùng đỉnh đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (0,7 x 0,3) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Vết thương phần mềm vùng trán – đỉnh đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (4 x 0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.

- Vết thương phần mềm vùng giữa trán đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (1,5 x 0,1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.

- Vết thương phần mềm mặt ngoài vai phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo (2,5 x 0,1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Vết thương phần mềm vùng lưng bên phải cột sống đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (3,5 x 0,1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Vết sây sát mắt cá ngoài chân trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo mờ kích thước (2 x 1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Mặt ngoài cẳng chân trái có 03 vết sây sát da đã được điều trị, hiện để lại rối loạn sắc tố da kích thước.

+ Vết 1: (4,5 x 0,1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0,5%.

+ Vết 2: (5 x 0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0,5%.

+ Vết 3: (5 x 0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0,5%.

- Đa chấn thương hai mắt, mũi sưng bầm; sây sát da vùng lưng và mắt cá ngoài chân phải hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Huỳnh Thanh T tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019.

Các vết thương vùng đỉnh, vùng trán – đỉnh, vùng giữa trán, các vết sây sát da mắt cá ngoài chân trái và mặt ngoài cẳng chân trái do vật tày gây ra; các vết thương vai phải, vùng lưng bên phải cột sống do vật sắc gây ra.

Vết thương vùng đỉnh có chiều hướng lực tác động từ trên xuống dưới; các vết thương vùng trán – đỉnh, vùng giữa trán có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau; vết thương mặt ngoài vai phải có chiều hướng lực tác động từ phải sang trái; vết thương vùng lưng bên phải cột sống có chiều hướng tác động từ sau ra trước; các vết sây sát da mắt cá ngoài chân trái và mặt ngoài cẳng chân trái có chiều hướng tác động theo cơ chế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 452/KLTTCT-TTPYBT ngày 24/07/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của ông Nguyễn Trần Tấn L1 như sau:

- Vết thương phần mềm đuôi cung mày trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước (1 x 0,1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.

- Vết thương vùng thượng vị, cạnh trái đường trắng giữa, thủng dạ dày đã được phẫu thuật điều trị, hiện để lại sẹo vết thương kích thước: (2 x 0,1) cm, sẹo vết mổ đường trắng giữa trên rốn kích thước: (12,5 x 0,5) cm; 02 vết seo dẫn lưu vùng hố chậu trái kích thước: Vết 1: (1 x 0,5) cm, vết 2: (1,2 x 0,4 cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là: 26%+1%+3%+1%+1%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Nguyễn Trần Tấn L1 tại thời điểm giám định là: 32% (Ba mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019.

Vết thương vùng đuôi cung mày trái do vật sắt gây ra; Vết thương vùng thượng vị do vật sắt gây nhọn gây ra.

Các vết thương có chiều hướng tác động từ trước ra sau.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 458/KLTTCT-TTPYBT ngày 24/07/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Huỳnh Văn H như sau:

- Vết thương phần mềm kẽ ngón 1,2 bàn tay trái, đứt cơ dạng ngón cái (ngón 1) đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: (4 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Huỳnh Văn H tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019.

Vết thương do vật sắt gây ra.

Các vết thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 454/KLTTCT-TTPYBT ngày 24/07/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của ông Trần Duy B như sau:

- Vết thương phần mềm vùng thượng vị đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: (1,5 x 0,6)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Trần Duy B tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019.

Vết thương do vật nhọn gây ra.

Vết thương có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 453/KLTTCT-TTPYBT ngày 21/07/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của bà Trần Thị Ngọc L2 như sau:

- Chấn thương vùng mặt trái hiện không để lại dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Ngày 29/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B có Công văn số 82/CV-ĐCSHS đề nghị Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B trả lời về cơ chế hình thành vết thương của Huỳnh Thanh T như sau:

- Vết sây sát mắt cá ngoài chân trái (Tỷ lệ tổn thương là 1%); Mặt ngoài cẳng chân trái có 03 vết sây sát da (Tổng tỷ lệ tổn thương là 1,5%) tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương là tác động như thế nào? Từ trên xuống dưới, từ phải qua trái hay từ dưới lên trên?

- Vết sây sát mắt cá ngoài chân trái (Tỷ lệ tổn thương là 1%); Mặt ngoài cẳng chân trái có 03 vết sây sát da (Tổng tỷ lệ tổn thương là 1,5%) do vật tày gây ra thì loại vật tày đó có tiết diện như thế nào? Nếu mắt cá ngoài chân trái và mặt ngoài cẳng chân trái bị té ngã va chạm xuống mặt sân si măng thì có thể tạo ra vết thương nói trên hay không?

Ngày 31/01/2024, Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B có Công văn số 71/GĐYKPY-PGĐ trả lời về cơ chế hình thành vết thương của Huỳnh Thanh T như sau:

- Chiều hướng lực tác động gây ra các vết thương: sây sát da mắt cá ngoài chân trái và 03 vết sây sát da mặt ngoài cẳng chân trái là theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây ra thương tích là: Vì vị trí các vết thương ở vùng chi (chân, tay) của cơ thể nên được xác định dựa vào tư thế giải phẫu học trong y khoa và chức năng của các chi như gập, duỗi xoay...và bao gồm cả phản xạ của chi (chân, tay) chống lại khi bị tác động bởi vật gây thương tích.

- Không đủ cơ sở để xác định tiết diện của vật tày gây ra các vết thương: sây sát da mắt cả ngoài chân trái và 03 vết sây sát da mặt ngoài cẳng chân trái.

- Nếu mắt cá ngoài chân trái và mặt ngoài cẳng chân trái bị té ngã va chạm xuống mặt si măng thì có khả năng tạo ra các vết thương nêu trên.

Quá trình điều tra xác định khi 02 nhóm tham gia đánh nhau, mỗi nhóm đều không có bàn bạc, thống nhất ngay từ đầu, chỉ mang tính bộc phát nhất thời do mỗi nhóm đều là anh, em bà con với nhau, khi nghe tin người thân bị đánh thì chạy đến người nào cố ý gây thương tích cho ai thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương đương với hậu quả do mình gây ra, không phải chịu trách nhiệm chung với hậu quả do người khác gây ra.

Đối với thương tích của Nguyễn Trần Tấn L1 tại đuôi cung mày trái và vùng thượng vị, cạnh trái đường trắng giữa, thủng dạ dày với tổng tỷ lệ thương tích là 32%, Huỳnh Văn H thừa nhận dùng 01 cây dao thái lan trực tiếp gây thương tích cho L1, lời khai của H phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác.

Đối với thương tích của Huỳnh Văn H tại kẽ ngón 1,2 bàn tay trái, đứt cơ dạng ngón cái với tỷ lệ tổn thương là 2%, Nguyễn Trần Tấn L1 thừa nhận dùng 01 cây dao tự tạo trực tiếp gây thương tích cho H, lời khai của L1 phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác.

Đối với thương tích của Trần Duy B tại vùng thượng vị (ở bụng) với tỷ lệ tổn thương là 2%, Huỳnh Thanh T thừa nhận dùng 01 cây mỏ gãy trực tiếp gây thương tích cho B, lời khai nhận tội của T phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác.

Riêng đối với thương tích của Huỳnh Thanh T tại vùng đỉnh là 1% (do vật tày gây ra; lực tác động từ trước ra sau); tại vùng trán – đỉnh là 3% (do vật tày gây ra; lực tác động từ trước ra sau) tại vùng giữa trán là 3% (do vật tày gây ra; lực tác động từ trước ra sau); tại mặt ngoài vai phải là 1% (do vật sắc gây ra; lực tác động từ phải sang trái) tại vùng lưng bên phải là 1% (do vật sắc gây ra; lực tác động từ sau ra trước); sây sát mắt cá ngoài chân trái là 1% (do vật tày gây ra; lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương) và mặt ngoài cẳng chân trái có 03 vết sây sát da là 1,5% do vật tày gây ra; lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương). Tổng tỷ lệ thương tích là 11%. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định thương tích của T do Lâm Phi CTrần Hoài V gây ra ở 02 thời điểm khác nhau, mỗi thời điểm cách nhau là 05 phút, cụ thể như sau:

+ Lần thứ nhất vết thương tại vùng trán – đỉnh là 3%, vùng giữa trán là 3%, theo T khai vết thương này do Lâm Phi C dùng cây gỗ đánh 01 cái trúng từ đỉnh trán kéo dài xuống giữa trán gây thương tích; vết thương tại mặt ngoài vai phải là 1%, theo lời khai của T là do Trần Hoài V đánh vào phía đầu bên phải người thì T đưa cây liềm lên đỡ làm cho lưỡi liềm bị gãy va vào vai phải gây thương tích.

+ Lần thứ hai vết thương tại vùng đỉnh là 1%, theo lời khai của T do V dùng cây bạch đàn đánh gây thương tích; vết thương sây sát mắt cá ngoài chân trái là 1% và mặt ngoài căng chân trái có 03 vết sây sát da là 1,5%, theo T khai sau khi V đánh 01 cái vào đỉnh đầu thì V đánh tiếp cái thứ 2 T né được nên trúng vào cẳng chân trái và mắt cá ngoài chân trái; Vết thương tại vùng lưng bên phải là 1% là do Trần Duy B dùng dao gây ra.

Tuy nhiên qua làm việc thì chỉ có C thừa nhận dùng cây gỗ đánh vào vùng giữa trán của T gây thương tích tổng tỷ lệ là 6% và V cũng thừa nhận chỉ đánh vào phía đầu bên phải người thì T đưa cây liềm lên đỡ làm cho lưỡi liềm bị gãy va vào vai phải gây thương tích 1%. Thời điểm đánh thì cả hai người tham gia đánh cùng một lúc. Vì vậy, CV phải chịu trách nhiệm chung về thương tích tại vùng trán – đỉnh là 3%, vùng giữa trán là 3% và mặt ngoài vai phải là 1% ở lần đánh thứ nhất là phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác.

Đối với các thương tích còn lại của Huỳnh Thanh T tại các vị trí vết thương sây sát mắt cá ngoài chân trái là 1%; mặt ngoài cẳng chân trái có 03 vết sây sát da là 1,5; vùng đỉnh là 1%; vùng lưng bên phải là 1% theo lời khai của Lâm Phi CTrần Hoài V do ông T tự té gây ra (phù hợp với Công văn số 71/GĐYKPY-PGĐ trả lời về cơ chế hình thành vết thương của Huỳnh Thanh T), mặt khác các vết thương này theo lời khai của T là bị đánh lần thứ 2 nên không thể tính gộp chung vào các vết thương bị đánh lần thứ 1 cho nên hành vi của Lâm Phi CTrần Hoài V chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Ngày 29/05/2023, trong quá trình kiểm tra hiện trường Công an xã H tạm giữ: 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 11,5cm; 01 cây mỏ gãy dài 2,12m, cán làm bằng gỗ dài 1,77m được nối với thanh sắt có 02 mũi nhọn chĩa ra phía trước dài 35cm; 01 dụng cụ để róc cành thanh long dài 1,3m, cán làm bằng gỗ dài 1,15m, lưỡi làm bằng sắt có răng cưa dài 15cm; 01 cây gỗ bạch đàn dài 3,86m, đường kính 9,7cm; 01 cây dao tự tạo dài 75cm, cán làm bằng ống sắt được quấn băng keo màu đen dài 25cm, lưỡi làm bằng sắt dài 50cm.

- Ngày 01/7/2023, Huỳnh Văn H tự nguyện giao nộp 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 18,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 8,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 10cm.

- Ngày 8/8/2023, Huỳnh Văn H tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để bồi thường cho Nguyễn Trần Tấn L1. Đối với 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) mà Huỳnh Văn H đã giao nộp cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả cho Nguyễn Trần Tấn L1 thì sau khi giao nộp đại diện gia đình của Huỳnh Văn HHuỳnh Thanh T đã thương lượng bồi thường xong về phần dân sự cho Nguyễn Trần Tấn L1 nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho gia đình Huỳnh Văn H theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 11,5cm; 01 cây mỏ gãy dài 2,12m, cán làm bằng gỗ dài 1,77m được nối với thanh sắt có 02 mũi nhọn chĩa ra phía trước dài 35cm; 01 dụng cụ để tỉa cành thanh long dài 1,3m, cán làm bằng gỗ dài 1,15m, lưỡi làm bằng sắt có răng cưa dài 15cm; 01 cây gỗ dài 3,86m; 01 cây dao tự tạo dài 75cm, cán làm bằng ống sắt được quấn băng keo màu đen dài 25cm, lưỡi làm bằng sắt dài 50cm; 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 18,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 8,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 10cm; đây là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình để chờ xử lý theo quy định.

Về phần dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình Huỳnh Thanh THuỳnh Văn H đã bồi thường cho Nguyễn Trần Tấn L1, Trần Duy B số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). Nguyễn Trần Tấn L1, Trần Duy B không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với Huỳnh Thanh THuỳnh Văn H không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

*Tại Cáo trạng số 71/CT-VKSBB ngày 18/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 11,5cm; 01 cây mỏ gãy dài 2,12m, cán làm bằng gỗ dài 1,77m được nối với thanh sắt có 02 mũi nhọn chĩa ra phía trước dài 35cm; 01 dụng cụ để tỉa cành thanh long dài 1,3m, cán làm bằng gỗ dài 1,15m, lưỡi làm bằng sắt có răng cưa dài 15cm; 01 cây gỗ dài 3,86m; 01 cây dao tự tạo dài 75cm, cán làm bằng ống sắt được quấn băng keo màu đen dài 25cm, lưỡi làm bằng sắt dài 50cm; 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 18,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 8,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 10cm.

Bị cáo trình bày: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Bị hại trình bày: Không yêu cầu gì thêm về phần dân sự, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của người làm chứng Trần Duy K, Sú Mằn P1: Quá trình điều tra, người làm chứng Trần Duy K, Sú Mằn P1 đã có lời khai nên việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy:

Xuất phát từ mâu thuẫn do Trần Thị Ngọc L2 bị Huỳnh Thanh T dùng tay tát 01 cái vào vùng mặt nên vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/5/2023 tại nhà của Huỳnh Thanh T tại thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận, nhóm gồm Trần Thị Ngọc L2, Trần Hoài V, Trần Duy B, Lâm Phi C, Nguyễn Trần Tấn L1 đã kéo đến và đánh nhau với nhóm gồm Huỳnh Thanh T, Ngô Thị Mỹ L3, bị cáo Huỳnh Văn H. Tại đây, bị cáo Huỳnh Văn H đã dùng 01 cây dao thái lan có kích thước dài 18,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 8,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 10cm là hung khí nguy hiểm đâm 01 cái trúng vào cung đuôi mày mắt trái và đâm 01 cái trúng vào bụng của Nguyễn Trần Tấn L1, hậu quả L1 bị tổn thương cơ thể 32%.

Với hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của bị hại Nguyễn Trần Tấn L1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 32% thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi của bị cáo Huỳnh Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Huỳnh Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại, bị hại làm đơn xin bãi nại cho bị cáo; tại phiên tòa bị hại cũng tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo không có tiền án, tiền sự; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

[6] Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, bị cáo Huỳnh Văn H có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo Huỳnh Văn H dưới khung hình phạt của khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[7] Ngoài ra, trong vụ án này Huỳnh Thanh T, Nguyễn Trần Tấn L1, Trần Hoài V, Lâm Phi C đã bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại), tuy nhiên các bị hại có Đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và đơn bãi nại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; những người này không có vai trò đồng phạm với bị cáo Huỳnh Văn H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với Huỳnh Thanh T, Nguyễn Trần Tấn L1, Trần Hoài V, Lâm Phi C là phù hợp theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Bên cạnh đó:

Đối với thương tích của bà Trần Thị Ngọc L2 sau khi giám định không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là bao nhiêu phần trăm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý về hành vi cố ý gây thương tích cho bà L2 là có căn cứ.

Đối với thương tích của Nguyễn Mạnh K1, sau khi sự việc xảy ra, thương tích của K1 không đáng kể nên K1 không yêu cầu giám định tỉ lệ thương tích và không yêu cầu giải quyết gì đối với thương tích của mình, cam đoan không khiếu nại hay thắc mắc về sau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét giải quyết là phù hợp.

Đối với hành vi tham gia đánh nhau của Trần Thị Ngọc L2, Ngô Thị Mỹ L3, Trần Duy B, Sú M, Nguyễn Trần Bích L4 do các bên đã có Đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án; mặt khác những người này không có vai trò đồng phạm gì đối với bị cáo Huỳnh Văn H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét, xử lý là có căn cứ.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo Huỳnh Văn HHuỳnh Thanh T đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Trần Tấn L1Trần Duy B số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). Bị hại Nguyễn Trần Tấn L1, Trần Duy B không yêu cầu bồi thường gì thêm, ngoài ra cũng không có ai yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

[10] Về vật chứng: 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 11,5cm; 01 cây mỏ gãy dài 2,12m, cán làm bằng gỗ dài 1,77m được nối với thanh sắt có 02 mũi nhọn chĩa ra phía trước dài 35cm; 01 dụng cụ để tỉa cành thanh long dài 1,3m, cán làm bằng gỗ dài 1,15m, lưỡi làm bằng sắt có răng cưa dài 15cm; 01 cây gỗ dài 3,86m; 01 cây dao tự tạo dài 75cm, cán làm bằng ống sắt được quấn băng keo màu đen dài 25cm, lưỡi làm bằng sắt dài 50cm; 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 18,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 8,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 10cm là công cụ dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[11] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn H 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 11,5cm; 01 cây mỏ gãy dài 2,12m, cán làm bằng gỗ dài 1,77m được nối với thanh sắt có 02 mũi nhọn chĩa ra phía trước dài 35cm; 01 dụng cụ để tỉa cành thanh long dài 1,3m, cán làm bằng gỗ dài 1,15m, lưỡi làm bằng sắt có răng cưa dài 15cm; 01 cây gỗ dài 3,86m; 01 cây dao tự tạo dài 75cm, cán làm bằng ống sắt được quấn băng keo màu đen dài 25cm, lưỡi làm bằng sắt dài 50cm; 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 18,5cm, cán dao làm bằng nhựa, màu vàng dài 8,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại sắt, màu trắng dài 10cm.

(Các vật chứng này hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2024).

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/8/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận (trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật);
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đỗ Hoàng Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn H phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger