TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Khương;
Ông Phùng Hải Thụy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trần Thị G: Giới tính: Nữ; Sinh ngày 05 tháng 8 năm 1972, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố A, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Trần Văn Q (đã chết); Con bà: Trương Thị H; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Chồng: Trương Văn C (đã ly hôn); Con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 13/5/2024, bị Ủy ban nhân dân thành phố Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 20.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 29/02/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, sau đó được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
2. Nguyễn Ngọc H1 (tên gọi khác: Gôn); Giới tính: Nam; Sinh ngày 17 tháng 7 năm 1993, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi thường trú: Khu phố L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Chỗ ở hiện nay: Số A đường L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe, S; Con ông Nguyễn Ngọc P và bà Hồ Thị Thu T; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Có 01 tiền án, cụ thể: Tại Bản án số 23/2018/HSST ngày 29/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà đã tuyên phạt Nguyễn Ngọc H1 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” (Đến nay vẫn chưa thi hành án đối với khoản án phí và bồi thường dân sự cho bị hại).
Tiền sự: Có 01 tiền sự, cụ thể: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 100/QĐ-XPHC ngày 08/5/2023 của Công an thành phố Đ đã xử phạt Nguyễn Ngọc H1 bằng hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản cá nhân” (Đến nay vẫn chưa thi hành).
Nhân thân:
- Ngày 30/01/2015, bị Công an thành phố Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 5.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng hóa cấm kinh doanh” và 3.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng hóa nhập lậu”.
- Ngày 12/7/2019, bị Ủy ban nhân dân phường Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q cho đến nay. Có mặt.
3. Vương Khánh C1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 4 năm 1964, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố I, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Vương Khánh Đ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị P1; Gia đình có 07 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Võ Thị P2; Có 03 người con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án: Không.
Tiền sự: Có 01 tiền sự. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPVPHC ngày 09/01/2024, của Ủy ban nhân dân huyện C đã xử phạt Vương Khánh C1 bằng hình thức phạt tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ pháo nổ”.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 35/HSPT ngày 23/11/1998, của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị tuyên phạt Vương Khánh C1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải”.
- Ngày 17/5/1999, bị Phòng C, Công an tỉnh Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng hóa nhập lậu”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 20/02/2024 cho đến nay. Có mặt.
NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đậu Vũ H2, sinh năm: 1982; trú tại: Khu phố C, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Ông Bùi Như A, sinh năm: 1990; trú tại: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1978; trú tại: Khu phố G, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Ông Võ Văn T2, sinh năm: 1964; trú tại: Khu phố B, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 20/02/2024, Vương Khánh C1 lái xe ô tô mang biển kiểm soát 74B-001.30 chở Trần Thị G (chủ xe) cùng khách từ thành phố Đ lên thị trấn L. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, xe đến bến xe L, trả khách xong thì đậu xe tại bến rồi Gái cùng với C1 đi ăn sáng. Đến khoảng 08 giờ 00 phút sau khi ăn sáng xong, C1 quay lại và lên xe ngồi, còn G đi xung quanh bến tìm khách về Đ. Lúc này có một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đi đến xe và hỏi bán cho C1 01 (một) hộp pháo hoa nổ với giá 280.000 đồng, C1 đã đồng ý mua với mục đích về sử dụng. Để tránh việc Gái phát hiện nên C1 đã cất giấu hộp pháo hoa nổ phía trước dưới sàn xe ở vị trí ghế lái và lấy mũ bảo hiểm che lại. Rồi C1 xuống xe đi uống cà phê.
Khoảng 08 giờ 05 phút, G quay lại xe ô tô thì không thấy C1 ngồi trên xe và trong khu vực bến xe nên G đứng ở xe để quản lý xe. Lúc này có một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đến gặp G và thuê vận chuyển 02 hộp pháo hoa nổ về thành phố Đ giao cho một người đàn ông tên T3 (có số điện thoại 0963.287.xxx) với tiền công là 100.000 đồng và khi đưa pháo về thành phố Đ thì G gọi điện cho ông T3 theo số điện thoại trên để giao pháo. Do muốn kiếm thêm thu thập nên G đồng ý. Sau khi G đồng ý, người đàn ông này đưa cho G 02 hộp pháo hoa nổ (mỗi hộp được bọc trong một túi nilong màu đen, bên ngoài bọc túi ni long trong suốt) và trả tiền công vận chuyển cho G là 100.000 đồng, G nhận tiền công và đưa pháo lên xe ô tô biển kiểm soát 74B-001.30 cất giấu.
Khoảng vài phút sau, có một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đi đến gặp và thuê G vận chuyển 01 hộp pháo hoa nổ và 02 bao pháo nổ về thành phố Đ. Quá trình trao đổi thì người phụ nữ này biết địa chỉ nhà Gái tại A T, khu phố A, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nên thuê bà G vận chuyển số pháo trên về nhà bà G sẽ có người phụ nữ tên H3 đến nhận, tiền công vận chuyển là 80.000 đồng. Sau khi G đồng ý thì người phụ nữ này đưa cho bà G 01 túi xách màu đen bên trong đựng 01 hộp pháo hoa nổ cùng 02 bao pháo nổ và 80.000 đồng tiền công vận chuyển. Gái đưa số pháo hoa nổ và pháo nổ lên xe ô tô biển kiểm soát 74B-001.30 cất giấu.
Sau khi cất giấu số pháo trên, thì khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày G đi ra via hè phía trước bến xe, G thấy có một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đang sắp xếp thuốc lá điếu hiệu JET do nước ngoài sản xuất vào một bao ni long màu đen nên G hỏi mua. Người phụ nữ nói tổng có 490 bao thuốc lá điếu hiệu JET, nếu mua thì người phụ nữ bán với giá 8.500.000 đồng. Thấy rẻ nên G đồng ý mua nhằm mục đích về thành phố Đ bán lại kiếm lời. Gái trả số tiền 8.500.000 đồng cho người phụ nữ này. Sau khi mua xong Gái đưa toàn bộ số thuốc trên đến xe ô tô biển kiểm soát 74B-001.30 rồi xé lẽ ra cất giấu nhiều nơi trên xe.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày C1 quay lại xe, G bảo C1 lái xe chở G quay về thành phố Đ. Đến 08 giờ 45 phút, xe chạy đến chợ T5 (quá ngã 3 T khoảng 50m), có một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) vẫy đón xe, nên G bảo C1 dừng xe lại để đón khách. Khi xe dừng lại, G xuống xe nói chuyện với người phụ nữ này, hai người đứng ở vị trí sau xe ô tô nói chuyện, người phụ nữ đặt vấn đề thuê Gái vận chuyển 06 hộp pháo hoa nổ về thành phố Đ với tiền công vận chuyển là 300.000 đồng, G đồng ý nhận vận chuyển và mở cửa sau của xe để người phụ nữ này bưng 06 hộp pháo hoa nổ (04 hộp được đựng trong các túi ni long đen, bên ngoài bọc thêm 01 túi ni long trong suốt khác và 02 hộp được bọc trong 02 túi ni long đen, bên ngoài bọc thêm 01 túi long đen khác) bỏ lên phía bên phải cửa sau của xe. Rồi người phụ nữ này lấy số điện thoại của G và thỏa thuận đến khoảng 10 giờ cùng ngày người này sẽ gọi điện lại cho G để nói địa điểm giao pháo, tiền công vận chuyển người nhận pháo sẽ trả cho G. Sau khi thoả thuận nhận xong, G lên xe và nói C1 chạy xe về thành phố Đ. Đến 10 giờ 02 phút, khi xe về chạy đến khu vực Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q thì người phụ nữ này gọi điện thoại cho G thống nhất địa điểm giao pháo trước khách sạn G3, đường L. Nghe điện thoại xong G nói C1 chạy xe về trước khách sạn G3 tại đường L để giao hàng hoá. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, xe chạy đến quá khách sạn G3 khoảng 10m thì G nói C1 dừng xe lại. Lúc này Nguyễn Ngọc H1 đi xe môtô mang biển kiểm soát 74-060-F3 đến dừng sát bên cửa phụ nói với G là “đến nhận pháo”, G lấy 02 (hai) túi nilong đựng 06 hộp pháo hoa nổ từ trên xe ô tô mang biển kiểm soát 74B-001.30 xuống giao cho H1, H1 nhận 02 (túi) nilong chưa kịp giao tiền công vận chuyển cho G thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang vào lúc 10 giờ 20 phút cùng ngày.
Đối với Nguyễn Ngọc H1 làm nghề lái xe môtô giao nhận hàng hoá (S), vào tháng 12/2023 quá trình giao nhận hàng hoá thì có gặp một người phụ nữ tên Tâm, qua nói chuyện thì người phụ nữ này giới thiệu ở tại xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, số điện thoại 0842.574.xxx và hứa hẹn khi bà T4 có hàng hoá sẽ gọi điện cho H1 để thuê vận chuyển. Đến tối ngày 19/02/2024 bà T4 gọi điện thoại và hẹn H1 đến đoạn khu vực bãi rác ở đường Q (đường Đ) gặp bà T4 để nói chuyện. Khi gặp nhau thì bà T4 trao đổi và thuê H1 vận chuyển 06 hộp pháo hoa nổ để giao cho khách hàng với tiền công 300.000 đồng, bà T4 dặn H1 khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/02/2024 nếu bà T4 gửi được pháo về Đ thì bà T4 sẽ gọi điện cho H1 để nói địa điểm nhận pháo thì H1 đồng ý nhận vận chuyển. Bà T4 đưa cho H1 số tiền 600.000 đồng, trong đó có 300.000 đồng là tiền công vận chuyển trả cho H1, còn 300.000 đồng là tiền đề Hoàn trả cho nhà xe khi nhận pháo. Trao đổi giao dịch xong thì hai người rời đi. Đến khoảng 10 giờ 05 phút ngày 20/02/024, bà T4 gọi điện cho H1 nói đến trước khách sạn G3 tại đường L để nhận pháo do chủ xe khách mang biển kiểm soát 74B-001.30 đến giao. Nên H1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 74-060-F3 đến phía bên kia đường đối diện khách sạn G3 đợi xe khách. Đến khoảng 10 giờ 15 phút, H1 thấy xe ô tô khách mang biển kiểm soát 74B-001.30 dừng phía trước khách sạn G3, H1 đi đến bên cửa phụ và nói với G là “đến nhận pháo” thì G mang hai bao ni long đen đựng pháo hoa nổ từ trên xe xuống giao cho H1, khi H1 vừa nhận pháo hoa nổ thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, kiểm tra phát hiện bên trong 02 bao nilong có chứa 06 hộp pháo hóa nổ.
Tại bản Kết luận giám định số 306/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận:
- 04 (bốn) hộp, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P1 là pháo hoa nổ. Khối lượng: 5,4kg.
- 02 (hai) hộp, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P2 là pháo hoa nổ. Khối lượng: 2,7kg.
- 01 (một) hộp, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P3 là pháo hoa nổ. Khối lượng: 1,4kg.
- 02 (hai) hộp, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P4 là pháo hoa nổ. Khối lượng: 2,7kg.
- 01 (một) hộp, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P5 là pháo hoa nổ. Khối lượng: 1,35kg.
- Các vật hình cầu nhiều màu sắc được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P5 là pháo nổ. Khối lượng: 0,438kg
- Các vật hình cầu nhiều màu sắc được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P6 là pháo nổ. Khối lượng: 0,431kg.
Cáo trạng số 88/CT-VKS-ĐH ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Trần Thị G, Nguyễn Ngọc H1 về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự; Vương Khánh C1 về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị G, Nguyễn Ngọc H1 (Tên gọi khác: G1) phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; bị cáo Vương Khánh C1 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Thị G từ 65.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc H1 từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù.
- Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Vương Khánh C1 từ 50.000.000 đồng đến 55.000.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số pháo hoa nổ và bao gói hoàn lại sau giám định; biển kiểm soát 74-006-F3 xe mô tô của Nguyễn Ngọc H1.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
+ 01 xe ô tô biển kiểm soát 74B-001.30, không kiểm tra tình trạng bên trong, xe đã qua sử dụng.
+ 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 016899 do Phòng C2 Công an tỉnh Q cấp ngày 11/01/2019 của xe ô tô mang biển kiểm soát 74B-001.30.
+ 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1894228 do Trung tâm Đ1 cấp ngày 27/01/2024.
+ 01 (một) xe mô tô, số máy: VUMYG150FMH072036, số khung: RMMDCHHCUM51002036 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong xe). Không có giấy chứng nhận đăng ký xe, không có thông tin trên dữ liệu phương tiện giao thông đường bộ.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, màu xanh đen, đã qua sử dụng (được niêm phong trong bì thư ký hiệu ĐT1).
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA TA-1272, màu xanh da trời, đã qua sử dụng (được niêm phong trong bì thư ký hiệu ĐT2).
+ Tiền Việt Nam đồng 780.000 đồng (Bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Trần Thị G, Nguyễn Ngọc H1, Vương Khánh C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để khẳng định:
Ngày 20/02/2024, tại vị trí phía trước khách sạn G3 số 297 đường L, phường Đ, thành phố Đ, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Q đã bắt quả tang Trần Thị G có hành vi vận chuyển 12,15 kg pháo hoa nổ và 0,869 kg pháo nổ cho người khác từ huyện H về thành phố Đ để lấy tiền công. Nguyễn Ngọc H1 đang nhận 8,1 kg pháo hoa nổ từ Trần Thị G đi giao cho người khác để nhận tiền công. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Đối với Vương Khánh C1 mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ pháo nổ” chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã có hành vi tàng trữ 1,4 kg pháo hoa nổ. Vương Khánh C1 không biết Trần Thị G nhận vận chuyển pháo hoa nổ và pháo nổ. Nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với hàng hoá cấm lưu thông, sử dụng, gây mất trật tự trị an địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được quy định của pháp luật nghiêm cấm hành vi vận chuyển pháo nổ, tàng trữ pháo nổ nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng bị cáo Trần Thị G có mẹ là bà Trương Thị H được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án số 23/2018/HSST ngày 29/5/2018, của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà đã tuyên phạt Nguyễn Ngọc H1 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Trần Thị G, Vương Khánh C1 có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự. Do đó, không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mà cần áp dụng thêm Điều 35 của Bộ luật hình sự để xử phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp. Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H1 có 01 tiền án chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, bị cáo còn có 01 tiền sự, nhân thân xấu, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.
[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:
- 04 (bốn) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 túi nylon trong suốt và 04 túi ni long màu đen, cùng các lớp lá chuối được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P1(Sau giám định còn lại 03 hộp pháo hoa nổ và bao gói cùng lá chuối được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P1).
- 02 (hai) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài và 03 (ba) túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P2 (Sau giám định còn lại 01 hộp pháo hoa nổ và 03 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P2).
- 01 (một) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 túi nylon trong suốt, 01 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P3 (Sau giám định còn lại 01 túi nylon màu đen và 01 túi ni lon trong suốt được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P3).
- 02 (hai) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 túi nylon trong suốt, 02 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P4 (Sau giám định còn lại 01 hộp pháo hoa nổ và 01 túi nylon trong suốt, 02 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P4).
- 01 (một) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 (một) túi nylon trong suốt chứa pháo nổ gồm nhiều vật hình cầu nhiều màu sắc; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) túi nylon trong suốt, 01 (một) túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P5 (Sau giám định còn lại 01 bao nylon trong suốt chứa các vật hình cầu là pháo nổ và 01 túi xách màu đen, 01 túi nylon trong suốt, 01 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P5).
- 01 (một) túi nylon trong suốt chứa pháo nổ gồm nhiều vật hình cầu nhiều màu sắc; 01 (một) túi nylon trong suốt; 01 (một) túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P6 (Sau giám định còn lại 01 túi nylon trong suốt chứa các vật hình cầu là pháo nổ và 01 túi nylon trong suốt; 01 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P6).
Các vật chứng trên là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với phương tiện bị cáo Trần Thị G dùng để vận chuyển các hộp pháo hoa nổ và pháo nổ là 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 74B-001.30, (có nguồn gốc của ông Đậu Vũ H2, Trần Thị G mua xe ô tô nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ) không kiểm tra tình trạng bên trong, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 016899 do Phòng C2 Công an tỉnh Q cấp ngày 11/01/2019 của xe ô tô mang biển kiểm soát 74B-001.30; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1894228 do Trung tâm Đ1 cấp ngày 27/01/2024. Cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, màu xanh đen, đã qua sử dụng của bị cáo Trần Thị G sử dụng liên lạc trong việc vận chuyển pháp nổ, cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
- 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 74-006-F3, số máy: VUMYG150FMH072036, số khung: RMMDCHHCUM51002036 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong xe), không có giấy chứng nhận đăng ký xe, không có thông tin trên dữ liệu phương tiện giao thông đường bộ, là của bị cáo Nguyễn Ngọc H1 dùng vào việc vận chuyển pháo nổ, nên cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước đối với chiếc xe và tịch thu tiêu huỷ biển kiểm soát 74-006-F3.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA TA-1272, màu xanh da trời, đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc H1, dùng để liên lạc với người phụ nữ tên T4 nhận vận chuyển pháo nổ, cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã chuyển 490 (Bốn trăm chín mươi) bao thuốc lá điếu hiệu JET đến cơ quan có thẩm quyền xử lý theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính.
- Tiền Việt Nam đồng 180.000 đồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1). Đây là tiền công bị cáo G nhận vận chuyển pháo cho người đàn ông và người phụ nữ ở thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị, nên tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
- Tiền Việt Nam đồng 600.000 đồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2). Trong đó có 300.000 đồng là tiền công bị cáo Nguyễn Ngọc H1 nhận vận chuyển pháo cho người phụ nữ tên T4 và 300.000 đồng tiền bà Tâm g cho H1 để trả cho Trần Thị G, cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
[7] Các hành vi liên quan khác:
- Đối với người đàn ông và 02 người phu nữ thuê Trần Thị G vận chuyển pháo trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân những người này nên sẽ tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.
- Đối với người đàn ông tên T3 (theo lời khai của Trần Thị G) trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân người này nên sẽ tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.
- Đối với người phụ nữ bán pháo hoa nổ cho Vương Khánh C1 trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân người này nên sẽ tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.
[8] Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 49/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 30/5/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 15/2024/QĐ-TA ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Hà đối với bị cáo Nguyễn Thị G2. Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 50/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 30/5/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 16/2024/QĐ-TA ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Hà đối với bị cáo Vương Khánh C1.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc H1 thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 6 năm 2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Thị G, Nguyễn Ngọc H1 (tên gọi khác: G1) phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”; bị cáo Vương Khánh C1 phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Thị G 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng).
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc H1 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/02/2024.
Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Vương Khánh C1 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
a. Tịch thu tiêu hủy:
- 03 (Ba) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 túi nylon trong suốt và 04 túi ni long màu đen, cùng các lớp lá chuối được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P1.
- 01 (Một) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài và 03 (ba) túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P2.
- 01 túi ni lon màu đen và 01 túi ni lon trong suốt được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P3.
- 01 (Một) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài hộp bọc giấy có ký hiệu C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 túi nylon trong suốt, 02 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P4.
- 01 bao nylon trong suốt chứa các vật hình cầu là pháo nổ và 01 túi xách màu đen, 01 túi nylon trong suốt, 01 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P5.
- 01 túi nylon trong suốt chứa các vật hình cầu là pháo nổ và 01 túi nylon trong suốt; 01 túi nylon màu đen được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P6.
(Vật chứng hiện được gửi tại kho vật chứng của Công an thành phố Đ và có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà).
b. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- 01 (một) xe ô tô BKS: 74B-001.30, không kiểm tra tình trạng bên trong, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 016899 do Phòng C2 Công an tỉnh Q cấp ngày 11/01/2019 của xe ô tô mang BKS: 74B-001.30; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1894228 do Trung tâm Đ1 cấp ngày 27/01/2024.
- 01 (một) xe mô tô, số máy: VUMYG150FMH072036, số khung: RMMDCHHCUM51002036 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong xe), không có giấy chứng nhận đăng ký xe, không có thông tin trên dữ liệu phương tiện giao thông đường bộ.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, màu xanh đen, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA TA-1272, màu xanh da trời, đã qua sử dụng.
- Tiền Việt Nam đồng 780.000 đồng (Bảy trăm tám mươi nghìn đồng) đã nộp vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà số 39490104787500000 mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Trị.
c. Tịch thu tiêu huỷ: Biển kiểm soát 74-006-F3 của xe mô tô.
(Vật chứng có đặc điểm như tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Thị G, Nguyễn Ngọc H1, Vương Khánh C1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND thành phố Đông Hà; - Công an thành phố Đông Hà; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Bị cáo; - Người có QL&NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về vận chuyển hàng cấm; tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 79/2024/QĐXXST-HS
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm; Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị G
