|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày: 16/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài
Ông Trần Văn Việt
Ông Nguyễn Ngọc Cang
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Hồng Vân- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 136/2023/TLST-HS ngày 22/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 29/01/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QĐ-HPT ngày 13/3/2024, Thông báo về việc mở lại phiên toà số 50/2024/TB-TA ngày 01/7/2024, đối với các bị cáo:
1. Trương Đức D, sinh ngày 25/9/2006 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: 56 Đ, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trương Văn N (sinh năm 1974) và bà Vũ Thúy A (sinh năm 1984); là con đầu trong gia đình có 02 anh em; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 10/5/2023, bị Công an phường A3, thành phố V xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, đã đóng phạt.
Bị bắt ngày 03/6/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Đại diện hợp pháp của bị cáo Trương Đức D: Ông Trương Văn N, sinh năm 1974 và bà Vũ Thúy A, sinh năm 1984; Địa chỉ: E Đ, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
2. Phan Thanh T, sinh năm 2000 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: 82/9/16 T, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Tạm trú: Nhà không số, khu Đ, Đ, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Phan Văn É (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim A1 (sinh năm 1966); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 03/6/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
3. Đỗ Văn B, sinh ngày 02/11/2005 tại Kiên Giang; Thường trú: Ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: H đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Đỗ Văn M (sinh năm 1981) và bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1982); là con đầu trong gia đình có 02 anh em; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 03/6/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Bị hại: Cháu Phan Văn Tuấn A2, sinh ngày 27/12/2009; Địa chỉ: 4 đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp của bị hại Phan Văn Tuấn A2: Ông Võ Văn T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: 4 đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Phan Văn Tuấn A2: Luật sư Trương Thị Thanh T2-Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
* Người bào chữa:
+ Cho bị cáo Trương Đức D, Đỗ Văn B: Luật sư Trần Anh D1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
+ Cho bị cáo Phan Thanh T: Luật sư Phạm Quốc D2 - Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1999; Địa chỉ: Hẻm I đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
+ Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; Địa chỉ: H đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 20h00' ngày 02/6/2023, tại quán C ở A Đ, phường A, thành phố V, do xảy ra mâu thuẫn cự cãi với Phan Văn T4 A2 nên Phan Thanh T điện thoại cho Trương Đức D rủ đánh A2. D đang đi cùng Đỗ Văn B nên bật loa ngoài cho B cùng nghe và cả hai đồng ý tới chỗ T để cùng đi đánh A2. B điều khiển xe mô tô Honda Vario biển số 68B1-537.48 chở D về nhà D tại E Đ, Phường A, thành phố V lấy 01 con dao dài 47cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, có mũi nhọn, dài 33 cm, rộng 5,5 cm dắt vào người, rồi cả hai tới quán cà phê Kim gặp T.
Khoảng 22h00' cùng ngày, B và D tới quán C1 T thì A2 đã ra về. T cùng B, D chạy xe đi tìm A2 thì nhìn thấy một nhóm đi xe mô tô ngược chiều, T nghĩ nhóm của A2 nên nói B và D quay xe đuổi theo. Đến trước nhà số A Đ, phường A, thành phố V thì nhóm thanh niên dừng xe lại. T thấy trong nhóm có A2 nên cùng B lao vào dùng tay đánh A2. A2 bỏ chạy vào trong nhà số A Đ lấy 01 cây kéo để trên bàn quay lại nói “giỏi thì nhào vô”. Nghe vậy D liền xuống xe dùng tay phải rút con dao cất giấu trong người lao vào chém liên tục nhiều nhát vào vùng đầu, tay của A2. A2 lấy tay đỡ và dùng kéo đâm vào bắp tay trái của D. Trong lúc D chém A2 thì T và B cũng xông vào dùng tay đẩy và đánh A2 nhiều cái. Đến khi A2 khuỵu xuống thì D, T, B mới dừng lại. Sau đó, T lên xe bỏ về, còn B chở D mang dao vứt tại bãi đất trống ở hẻm A Đ, phường A, thành phố V. A2 được mọi người đưa đi bệnh viện B2 cấp cứu.
* Kết luận giám định pháp y:
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 253/KLTTCT-PYBRVT ngày 03/07/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Văn T4 An là 22%; các thương tích trên được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc; theo cơ chế chém, băm, bổ hoặc cơ chế cắt, rạch”.
Kết luận giám định số 4999/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C2) – Bộ C3 xác định: “Trên con dao dài 47cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen gửi giám định có tế bào người. Phân tích ADN từ dấu vết này được một kiểu gen (ADN) nam giới và trùng với kiểu gen của Phan Văn Tuấn A2. Lưu kiểu gen tại Phân Viện Khoa học Hình sự T6 – Bộ C3” (BL 67, 75, 82).
Quá trình điều tra, các bị cáo Trương Đức D, Đỗ Văn B, Phan Thanh T đã khai nhận hành vi của bản thân, công nhận kết quả giám định và kết quả điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng về bối cảnh, diễn biến của vụ án, phù hợp với biên bản nhận dạng (BL 98-110), kết quả thực nghiệm điều tra (BL 112), biên bản khám nghiệm hiện trường (BL 255) và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
* Vật chứng vụ án:
Các vật chứng đã chuyển Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản:
- - 01 con dao dài 47cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, có mũi nhọn, dài 33cm, rộng 5,5cm.
- - 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng ánh kim, kích thước 24cm x 09cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ SVKI-JAPAN (đã niêm phong);
- - 01 điện thoại iPhone X màu đen, IMEI: 354857091016993;
- - 01 điện thoại di động Vivo màu xanh trắng, IMEI: 861428055318837;
- - 01 xe Honda Winner biển số 72C2-151.73, số máy: KC26E 1258586, số khung: 2600KY201727.
Chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 CD chứa đoạn video dài 05’25” ghi lại hình ảnh trước số nhà A Đ, phường A, thành phố V lúc 22h14' đến 22h19' ngày 02/6/2023.
Vật chứng đã xử lý: Cơ quan điều tra đã có Quyết định xử lý vật chứng số 10/QĐ ngày 19/9/2023 trả xe môtô Honda Vario biển số 68B1-537.48, số máy: KF11E2181431, số khung: MH1KF1124HK184270 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Quốc T3 (là anh em họ của bị cáo B) vì ông T3 cho B mượn xe để sử dụng, không biết B dùng để đi đánh nhau.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bà Vũ Thúy A, mẹ ruột của bị cáo Trương Đức D đã thay mặt gia đình của ba bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại Phan Văn Tuấn A2 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) chi phí chữa trị thương tích. Bị hại Phan Văn Tuấn A2 đã viết đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho 03 bị cáo, và không yêu cầu gì khác.
2. Tại Cáo trạng số 121/CT-VKSBRVT-P2 ngày 15/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố các bị cáo Trương Đức D, Phan Thanh T, Đỗ Văn B về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Trương Đức D, Phan Thanh T, Đỗ Văn B phạm tội “Giết người”; đề nghị hình phạt:
- + Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 15, Điều 57, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Đức D 06 (Sáu) - 08 (T5) năm tù.
- + Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 15, Điều 57, Điều 17, Điều 58, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thanh T 08 (T5) - 10 (M) năm tù.
- + Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 15, Điều 57, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn B 04 (Bốn) - 06 (S) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Tranh luận và đối đáp tại phiên tòa
4.1. Luật sư Trần Anh D1 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Trương Đức D, Đỗ Văn B:
Nhất trí với tội danh, Điều khoản truy tố, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo vì đầy đủ, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm cân nhắc, xem xét các nội dung: dù các bị cáo phạm tội lỗi cố ý, nhưng là bỏ mặc hậu quả, chứ không bằng mọi giá phạm tội đến cùng, cố tình tước đoạt mạng sống bị hại nên tính nguy hiểm hạn chế. Kết hợp với việc đánh giá ý thức, động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo ở độ tuổi chưa thành niên nên nhận thức pháp luật hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt phù hợp, khoan hồng theo đề nghị của Viện Kiểm sát, để các bị cáo sớm được trở về với gia đình, làm công dân có ích.
4.2. Luật sư Phạm Quốc D2 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Phan Thanh T:
Không nhất trí tội danh Viện Kiểm sát truy tố đối với bị cáo Phan Thanh T. Từ mâu thuẫn với cháu A2, T gọi D và B đến để đánh, mục đích để gây thương tích cho cháu A2; bảo không mang theo thứ gì. Như vậy, ý chí của bị cáo T rõ ràng là chỉ mong muốn đánh cảnh cáo cháu A2. T không biết D mang theo hung khí vì D giấu dao trong người. Khi A2 cầm kéo, D đã rút dao giấu trong người ra chém A2, bị cáo T không kiểm soát được tình hình, có vào ôm D kéo đi. Vì vậy, bị cáo T phạm tội Cố ý gây thương tích với hậu quả thương tích 22% gây ra cho bị hại, theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt 02 (Hai) - 06 (S) năm tù là phù hợp.
Thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo T. Riêng tình tiết tăng nặng “phạm tội với người dưới 16 tuổi” đã thu hút vào tội danh Cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên không còn coi là tình tiết tăng nặng áp dụng đối với bị cáo T.
Bị cáo có hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn: bố mất sớm, mẹ vất vả bươn chải làm lụng nuôi con nên bị cáo thiếu sự giáo dục của gia đình trong việc hình thành nhân cách, học vấn thấp nên hạn chế trong nhận thức pháp luật, gia đình bị cáo đã thoả thuận cùng gia đình bị cáo D bồi thường toàn bộ cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chuyển tội danh, xử phạt bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt khoan hồng, để bị cáo có cơ hội sửa chữa, làm lại cuộc đời.
4.3. Các bị cáo Trương Đức D, Đỗ Văn B, Phan Thanh T: Nhất trí với bào chữa của Luật sư, không bào chữa và tranh luận bổ sung.
4.4. Luật sư Trương Thị Thanh T2 phát biểu quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Phan Văn Tuấn A2:
Nhất trí tội danh, Điều khoản truy tố, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị.
Luật sư không nhất trí quan điểm luật sư Phạm Quốc D2 bào chữa cho bị cáo Phan Thanh T: T là nguyên nhân của vụ án, rủ các bị cáo còn lại gây án hoàn toàn không có lý do, tích cực đánh bị hại nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Bị cáo D là người bị cáo T gọi đến đã dùng dao chém vào các vị trí trọng yếu (đầu, thái dương) bị hại, bị hại không chết là ngoài ý muốn do may mắn. Khi bị cáo D dùng dao mang theo chém bị hại, bị cáo T và bị cáo B thấy và cùng xông vào đánh, đấm đá bị hại. Vì thế, cả ba bị cáo đồng phạm tội Giết người chưa đạt là hoàn toàn chính xác.
4.5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
4.6. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp:
Bị cáo T là nguyên nhân gây ra vụ án, vô cớ rủ các bị cáo khác tìm đánh cháu A2, khi cháu A2 đã xác nhận sự việc không như bị cáo nghĩ. Bị cáo gọi các bị cáo còn lại đến, tích cực tham gia đánh cháu A2. Khi bị cáo D dùng dao chém bị hại vào các vị trí trọng yếu, hai bị cáo còn lại vẫn tiếp tục lao vào đánh bị hại, thể hiện rõ việc tiếp nhận ý chí và đồng phạm, sau đó mới cùng nhau bỏ đi, bỏ mặc cháu A2 trong trạng thái nguy hiểm đến tính mạng. Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị.
4.7. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội.
5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, thực nghiệm điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Khoảng hơn 20h00' ngày 02/6/2023, tại quán C ở A Đ, phường A, thành phố V, do có mâu thuẫn cự cãi nhỏ nhặt với Phan Văn Tuấn A2 (có độ tuổi 13 tuổi 06 tháng 02 ngày) do nghĩ A2 đòi đánh và nhờ người đánh mình, nhưng đã được A2 trực tiếp trả lời, xác định không hề có việc đó, Phan Thanh T đã rủ Đỗ Văn B và Trương Đức D (có thủ sẵn dao) cùng đánh A2. Mặc dù A2 đã bỏ về, nhưng D, T, B vẫn tìm kiếm, đuổi theo A2 đến khu vực trước nhà số A Đ, Phường A, thành phố V để đánh. Trong lúc T, B đánh A2 bằng tay, chân thì D đã dùng con dao dài 47cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen chém liên tục nhiều nhát vào vùng đầu, thái dương, tay A2, là vùng trọng yếu trên cơ thể con người; các bị cáo T, B thấy D dùng dao chém vào đầu A2 vẫn tiếp tục nhào vào cùng đánh A2, trước khi kéo D bỏ đi; trực tiếp uy hiếp tính mạng nạn nhân, có tính chất côn đồ hung hãn, gây ra các thương tích ở vùng đầu nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể 22%.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định các bị cáo Trương Đức D, Phan Thanh T, Đỗ Văn B phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Từ mâu thuẫn nhỏ nhặt phát sinh trong đời sống sinh hoạt thường ngày bởi một sự việc không có thật như suy nghĩ của các bị cáo, các bị cáo đã rủ nhau, có bị cáo chuẩn bị hung khí là dao nhọn mang theo, tìm bị hại để giải quyết mâu thuẫn mặc dù có thể giải quyết bằng các giải pháp khác không sử dụng bạo lực. Việc dùng dao là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát vào vùng đầu, thái dương của bị hại là vị trí trọng yếu của cơ thể sẽ gây nguy hiểm, hoàn toàn có thể tước đoạt tính mạng của bị hại nhưng các bị cáo vẫn thực hiện và tiếp nhận ý chí, mục đích, mong muốn của nhau trong trong quá trình cùng nhau dùng vũ lực tấn công bị hại là người dưới 16 tuổi. Hành vi trên thể hiện việc coi thường pháp luật, có tính chất côn đồ, ý chí của các bị cáo là cố ý tước đoạt tính mạng của bị hại. Hậu quả bị hại bị thương tích 22%, không thiệt hại về tính mạng do được can ngăn, bị hại được đưa đi cấp cứu kịp thời, nằm ngoài ý muốn của các bị cáo. Các bị cáo phạm tội Giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, chỉ có bị cáo Phan Thanh T đã trưởng thành, trên 18 tuổi. Hai bị cáo còn lại chưa thành niên: bị cáo Trương Đức D đạt độ tuổi 16 năm 08 tháng 08 ngày, bị cáo Đỗ Văn B đạt độ tuổi 17 năm 07 tháng, chưa phát triển chưa đầy đủ về thể chất và tinh thần. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng giúp đỡ, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[3.2] Quá trình quyết định hình phạt có sự phân hoá tội phạm theo vai trò, vị trí tham gia phạm tội, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:
Bị cáo Trương Đức D trực tiếp dùng dao chém vào đầu và thái dương bị hại, nên phải chịu mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo còn lại. Bị cáo Đỗ Văn B trực tiếp chở bị cáo D về nhà lấy dao mang theo, bị cáo Phan Thanh T rủ rê hai bị cáo còn lại tham gia gây án, cùng tích cực tham gia đánh đấm bị hại khi chứng kiến bị cáo D dùng dao chém vào đầu bị hại, nên phải chịu mức hình phạt tương xứng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Đồng thời, áp dụng các quy định về người chưa thành niên phạm tội khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo Trương Đức D, Đỗ Văn B.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Phan Thanh T phải chịu thêm tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo Phan Thanh T trình độ học vấn thấp nên hạn chế trong nhận thức pháp luật theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Đã bồi thường xong, nên không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng:
+ Cần tuyên tịch thu, tiêu hủy: 3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao dài 47cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, mũi nhọn dài 33cm, rộng 5,5cm; 01 (Một) cái kéo bằng kim loại màu trắng ánh kim, kích thước 24cm x 09cm, trên vị trí lưỡi kéo có chữ SVKI-JAPAN.
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động iPhone X màu đen, Imei: 354857091016993; 01 (Một) điện thoại di động Vivo màu xanh trắng, I: 861428055318837; 01 (Một) xe mô tô Honda Winner, biển số 72C2-151.73, số máy: KC26E 1258586, số khung: 2600KY201727.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Trương Đức D, Phan Thanh T, Đỗ Văn B phạm tội “Giết người” (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt).
1.1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điểm i, o khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Thanh T 09 (Chín) năm tù, tính từ ngày 03/6/2023.
1.2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Đức D 08 (T5) năm tù, tính từ ngày 03/6/2023.
1.3. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Văn B 07 (B1) năm tù, tính từ ngày 03/6/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã xong, không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao dài 47cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, mũi nhọn dài 33cm, rộng 5,5cm; 01 (Một) cái kéo bằng kim loại màu trắng ánh kim, kích thước 24cm x 09cm, trên vị trí lưỡi kéo có chữ SVKI-JAPAN.
3.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động iPhone X màu đen, Imei: 354857091016993; 01 (Một) điện thoại di động Vivo màu xanh trắng, I: 861428055318837; 01 (Một) xe mô tô Honda Winner, biển số 72C2-151.73, số máy: KC26E 1258586, số khung: 2600KY201727; là công cụ, phương tiện liên quan tội phạm.
3.3. Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (Một) CD chứa đoạn video ghi lại hình ảnh vụ án xảy ra trước nhà 124A 10 Đ, phường A, thành phố V ngày 02/6/2023. Các vật chứng đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 21/BB-CTHADS ngày 21/11/2023.
4. Án phí hình sự sơ thẩm:
Các bị cáo Trương Đức D, Phan Thanh T, Đỗ Văn B nộp mỗi người 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (16/7/2024), các bị cáo, người bào chữa và đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại dưới 18 tuổi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Minh Bắc |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về giết người
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Đức D và đồng phạm phạm tội Giết người
