Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HSST

Ngày 09 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Cẩm Hà

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long

2. Bà Dương Thị Diễm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TL - HSST ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Vũ Đình G, sinh năm: 1993; ĐKNKTT: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Không rõ; Họ và tên mẹ: Đặng Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày: 27/12/2023. Có mặt tại phiên tòa.

2. Cao Văn H, sinh năm: 1993; ĐKNKTT: Thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Cao Văn H1; Họ và tên mẹ: Đặng Thị D; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 27/12/2023; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00' ngày 27/12/2023, Vũ Đình G gặp Cao Văn H tại khu vực công viên T và rủ nhau đi mua ma túy heroin về để sử dụng chung. Do H không có tiền, G chỉ có 100.000đ không có đủ tiền mua ma túy nên G, H bàn bạc gọi điện cho Trần Văn L (SN: 1984; Trú tại: Số E ngách G ngõ V- H- Đ- Hà Nội) với mục đích bán ma túy cho L để kiếm lời. Giáp lấy điện thoại của H và gọi điện cho L (qua mạng xã hội M) hỏi L có mua ma túy không, L đồng ý và chuyển khoản 200.000 đồngồng từ tài khoản MB bank số I (Trần Văn L) vào tài khoản số [...] của Cao Văn H mở tại Ngân hàng M1 để mua một gói ma túy heroin. Sau khi nhận được tiền, G chở H bằng xe máy Honda Wave mang BKS: 17B1- 23551 của H đi tìm mua ma túy. Cả hai đi đến khu vực ven hồ N đoạn đầu phố Phạm Huy T1 (sát số 18 Nguyễn Chí T2) thì H gặp và nhờ chị Đỗ Thị T3 (SN: 1977; địa chỉ: A D4 TT T, T, B, Hà Nội) đang bán hàng nước chè ở vỉa hè, H trao đổi với chị T3 để chuyển khoản vào tài khoản của chị T3 200.000 đồng và lấy tiền mặt từ chị T3. Chị T3 đồng ý và H đã chuyển số tiền 200.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M1 của H sang tài khoản ngân hàng V số [...] tên “DO THI THUY” cho chị T3. Sau khi nhận được 200.000 đồng tiền mặt từ chị T3, G điều khiển xe máy chở H đi đến đầu ngõ F K thì G bảo H chờ ở đây. G đi bộ vào ngõ F K, tại đây G gặp một nam thanh niên không quen biết hỏi và mua của người này hai gói ma túy heroin (một gói giấy màu trắng và một gói giấy màu vàng) với giá 300.000 đồng. Mua xong, G cầm hai gói ma túy heroin này trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra đầu ngõ F K nơi H đang đứng chờ từ trước. Khi G và H vừa gặp nhau thì tổ công tác Công an phường N tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của G có 02 gói ma túy hêrôin, G và H khai nhận 01 gói hêrôin bọc giấy màu vàng là để bán cho L; 01 gói hêrôin bọc giấy màu trắng là để G và H sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ tang vật và đưa G, H về trụ sở C để làm rõ.

Ngoài ra, Vũ Đình G còn khai nhận trước đó đã bán cho Trần Văn L 02 gói hêrôin với giá 200.000 đồng/01 gói vào các ngày 24, 26/12/2023. G và L gọi điện thoại cho nhau qua mạng xã hội Messenger để giao dịch mua bán ma túy, sau đó L chuyển tiền vào tài khoản của H, G nhận tiền và mang ma túy hêroin đến cho L (do G không có điện thoại nên G mượn điện thoại của H). Hai lần bán ma túy cho L này chỉ có một mình G thực hiện việc mua bán ma túy cho L, Cao Văn H không biết và không tham gia cùng G bán ma túy cho L vào ngày 24,26/12/2023.

Thu giữ từ Vũ Đình G: 01 (một) gói giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng, qua giám định sơ bộ tại phòng PC09- C1 có khối lượng 0,045 gam ma túy heroin; 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, qua giám định sơ bộ tại phòng PC09- C1 có khối lượng 0,102 gam ma túy heroin;

Thu giữ từ C: 01 (một) điện thoại Iphone 11 promax số sim: 0976932934; IMEI 1: 35390210594904; IMEI 2: 353902105938443; 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu đen mang BKS: 17B1- 23551; SM: 3174095; SK: 374047.

Tại Cơ quan điều tra, Cao Văn H, Vũ Đình G khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của Vũ Đình G phù hợp với lời khai của Cao Văn H, Trần Văn L, báo cáo bắt giữ, lời khai của người chứng kiến, người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Vũ Đình G, Cơ quan điều tra đã tiến hành tổ chức xác minh, nhưng không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Trần Văn L có hành vi mua 01 gói ma túy hêrôin có khối lượng 0,045 gam với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Nhân thân Trần Văn L có 01 tiền án: Ngày 23/9/2011, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, xử phạt 27 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 02/6/2013. Nộp án phí HSST tại biên lai số 0003122 ngày 08/11/2011. Đã xóa án tích. Kết quả xét nghiệm ma túy, Trần Văn L dương tính với ma túy hêrôin. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Văn L theo khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 1.500.000 đồng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 17B1-23551, số máy: HC12E3174095, SK: RLHHC1206BY374047 thu giữ của Cao Văn H, quá trình điều tra xác minh xác định là xe tang vật trong vụ Trộm cắp tài sản thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, tỉnh Nam Định. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra quyết định tách phần hồ sơ tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 17B1-23551 để làm thủ tục chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X, tỉnh Nam Định để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số: 71/CT-VKS ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Vũ Đình G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Cao Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Cácbị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo giống như bản cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm; Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đình G mức án từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy; mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 8 năm đến 8 năm 9 tháng.

- Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm; Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Văn H mức án từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy; mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 03 năm đến 03 năm 9 tháng.

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,045 gam heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Vũ Đình G, Cao Văn H; 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,102 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Vũ Đình G, Cao Văn H.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong, có gắn sim điện thoại

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án các bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Cao Văn H, bị cáo Vũ Đình G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng K công an thành phố H cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng sáng ngày 27/12/2023, do không đủ tiền để mua ma túy sử dụng chung, Vũ Đình GCao Văn H đã bàn nhau bán ma túy cho Trần Văn L kiếm lời để mua ma túy và cùng nhau sử dụng chung. L đã chuyển khoản của H 200.000 đồng để mua 01 gói ma túy của G. Sau khi nhận được 200.000 đồng từ L, G và H đã mua được 02 gói ma túy hêroin (một gói màu trắng, khối lượng 0,102 gam ma túy heroin, 1 gói màu vàng khối lượng 0,045 gam) với giá 300.000 đồng. Gói màu trắng để sử dụng chung, gói màu vàng để bán lại cho L nhưng chưa kịp bán cho L thì bị tổ công tác Công an phường N phát hiện bắt giữ. Ngoài ra, trước đó Vũ Đình G còn bán cho Trần Văn L 02 gói hêrôin, với giá 200.000 đồng/01 gói vào các ngày 24,26/12/2023. Việc G bán ma túy cho L và ngày 24,26/12/2023 H không biết và không tham gia cùng G.

Xét, hành vi bị cáo Vũ Đình G phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Cao Văn H phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3]. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Vũ Đình G về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Bị cáo Cao Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà N về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV, AIDS. Do ham hưởng lợi bất chính để kiếm lời để kiếm mua ma túy sử dụng nên các bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết ttăng nặng trách nhiệm hình sự;

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, tại cơ quan điều tra các bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Gia đình bị cáo Cao Văn H có bác là liệt sỹ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội bình thường, mà cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,045 gam heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Vũ Đình G, Cao Văn H; 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,102 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Vũ Đình G, Cao Văn H.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong, có gắn sim điện thoại thu giữ của Cao Văn H liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự (đối với Vũ Đình G1); Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự (đối với Cao Văn H); Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

- Xử phạt: Vũ Đình G 8 (tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 9 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.

- Xử phạt: C2 (ba mươi) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,045 gam heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Vũ Đình G, Cao Văn H; 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,102 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Vũ Đình G, Cao Văn H; Vật chứng hiện đang được lưu giữu tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản bàn giao vật chứng số 122 ngày 17/4/2024.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong, có gắn sim điện thoại; Vật chứng hiện đang được lưu giữu tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản bàn giao vật chứng số 122 ngày 17/4/2024.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 09 tháng 5 năm 2024.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Cẩm Hà

Nơi nhân:

  • -TAND TP thành phố Hà Nội;
  • -VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số I Hà Nội;
  • - UBND xã Đông Xuyên, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Đông Xuyên, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HSST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 78/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Vũ Đình G 8 (tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Xử phạt: C2 (ba mươi) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger