Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phùng Quang Minh

- Bà Hoàng Thị Hanh

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn An T, sinh ngày 19/11/1989; nơi sinh: Xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1957 và bà Nguyên Thị H, sinh năm 1962; vợ: Tòng Thị L, sinh năm 1989 và 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án sơ thẩm số 16/2009/HSST ngày 19/02/2009 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn An T 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, T đã chấp hành xong bản án.
  • + Bản án sơ thẩm số 44/2016/HSST ngày 20/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La xử phạt Nguyễn An T 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, T đã chấp hành xong bản án.
  • + Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc số 08/QĐ-TAND ngày 25/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đối với Nguyễn An T về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”, thời hạn chấp hành 09 tháng. Thuyên đã chấp hành xong ngày 31/01/2021.
  • + Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính số 38/QĐ-XPVPHC ngày 09/6/2020 của Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Nguyễn An T 200.000đồng về hành vi “Mua số đề”. Thuyên đã nộp phạt xong ngày 09/6/2020.
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 218/QĐ-XPHC ngày 17/9/2020 của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Nguyễn An T 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Thuyên chưa nộp phạt, đến nay đã hết thời hiệu thi hành(được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 6 năm 2024 cho đến nay (có mặt).

  • - Người làm chứng: Anh Kim Văn A, sinh năm 1987.
  • Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • - Người chứng kiến: Ông Kim Văn Đ1 – Tổ trưởng tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn An T là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2015 cho đến ngày bị bắt giữ. Ngày 11/6/2024, T gặp một người nam giới tên là B cũng nghiện chất ma túy (T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này). Sau đó, T nhờ B mua hộ ma túy đá và ma túy ngựa về để sử dụng cho bản thân. T đưa cho B số tiền 150.000đồng và hẹn khoảng đầu giờ chiều ngày 12/6/2024, gặp nhau ở sạp bán hoa quả của T ở khu vực ven đường tỉnh lộ 309 thuộc địa phận tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để giao ma túy. Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 12/6/2024, khi T đang ở sạp bán hoa quả thì B một mình điều khiển xe mô tô đến đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, T mở ra thấy có 01 túi ma túy đá và 01 viên ma túy ngựa. Sau khi giao ma túy, B điều kiển xe mô tô đi đâu T không biết. B vừa đi khỏi thì lực lượng Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đến kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ trên tay phải của T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi nilon nhỏ có khóa bấm màu trắng, phía trên viền đỏ, bên trong túi có các hạt tinh thể màu trắng dạng đá và 01 viên nén màu hồng hình tròn, được niêm phong trong bì thư ký hiệu A1, T khai là ma túy Methamphetamine và tàng trữ để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 1747/KL-KTHS ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

  • “+ Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3033g (không phảy ba không ba ba gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine.
  • + 01 viên nén màu hồng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1160g (không phảy một một sáu không gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine."

Tại phiên tòa, người làm chứng anh Kim Văn A và người chứng kiến ông Kim Văn Đ1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKSTD ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn An T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn An T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn An T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 6 năm 2024; về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1 = 0,2360gam mẫu tinh thể và 0,0682gam mẫu viên nén màu hồng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1633”.

Bị cáo Nguyễn An T không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn An T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Nguyễn An T tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ chứng cứ khách quan để kết luận:

Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 12/6/2024, tại khu vực bán hàng hoa quả của Nguyễn An T ở ven đường tỉnh lộ 309 thuộc địa phận tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn An T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,4193gam ma túy (Methamphetamine) với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ vật chứng và niêm phong theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn An T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

... c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý đang là tệ nạn xã hội có chiều hướng ngày càng gia tăng, từ tội phạm về ma tuý sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn An T không có tiền án, tiền sự nhưng xét về nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo đã từng bị kết án về các tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi “Đánh bạc” và “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã trải qua quá trình cải tạo, giáo dục trong môi trường trại giam và cơ sở giáo dục bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện tu dưỡng trở thành người công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.

[5]. Đối với người nam giới đã đưa ma túy cho bị cáo Nguyễn An T, quá trình điều tra T khai người này tên là B, cao khoảng 1,70m, da ngăm đen, đậm người. T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhớ đặc điểm phương tiện người này điều khiển. Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an thị trấn Hợp Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xác minh, rà soát nhưng không phát hiện đối tượng nào có đặc điểm như Thuyên khai báo. Do vậy, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, xử lý sau là phù hợp.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu A1 = 0,2360gam mẫu tinh thể và 0,0682gam mẫu viên nén màu hồng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1633”, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn An T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn An T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt Nguyễn An T 02 (hai) năm tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/6/2024).

  3. Về vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu A1 = 0,2360gam mẫu tinh thể và 0,0682gam mẫu viên nén màu hồng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1633”.

    (đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/10/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Nguyễn An T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Dương;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn An T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger