Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Việt

Bà Trần Thị Đổi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Thị C, Sinh năm 1977.

Tên gọi khác: T; Giới tính: nữ. Nơi sinh: tỉnh Long An. Nơi cư trú: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; chức vụ trước khi phạm tội: Không; trình độ học vấn: 6/12; Họ và tên cha: Trương Văn V, sinh năm 1944 (chết); Họ và tên mẹ: Trần Thị V1, sinh năm 1965 (chết); A, chị em ruột: Có 02 người, A, chị em ruột: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1973; Chồng: Không; Con: không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo Trương Thị C đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/11/2023 đến ngày 26/4/2024 tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Ông Lê Chí T1, sinh năm 1957

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phùng Ngọc Duy H, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Hồ Tấn L, Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q, Hồ Văn H1, Nguyễn Văn Bình E; tất cả vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 27/7/2023, Trương Thị C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển số 62K1-184.36 của C đi từ nhà của C đến khu vực ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An. Tại đây, C gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Q (bạn của C) rủ Q đi uống cà phê thì Q kêu C đến nhà của Lê Chí T1, ngụ tại ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (bạn của Q) để uống rượu, C đồng ý. Quẹo chỉ đường cho C đi đến nhà của T1. Khi đến nhà T1, C thấy Q, T1 và Lê Tấn P đang ngồi uống rượu tại bàn đá ở sân trước nhà T1. Lúc này, C ngồi vào cùng uống rượu với Q, T1 và P. Khoảng 30 phút sau thì có Hồ Văn H1 đến và cùng ngồi vào uống rượu với T1, Q và C. Trong lúc uống rượu T1 có gọi điện thoại cho Hồ Tấn L mua thức ăn, sau đó L đến giao thức ăn thì T1 lấy tiền trong ví da màu đen của T1 trả tiền mua thức ăn cho L. Sau khi trả tiền mua thức ăn, T1 để ví da này trên bàn dài trong nhà của T1. Lúc này, C nhìn thấy bên trong ví da của T1 có để nhiều tiền nên nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền của T1 để tiêu xài cá nhân.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày 27/7/2023, P đi về, C cùng với Q, T1 và H1 tiếp tục uống rượu đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì nghỉ, C cùng Q và H1 đi về, T1 nằm ngủ trên võng ở hàng ba nhà T1. Trước khi về H1 có khóa cửa cổng chính nhà của T1 lại rồi ném chìa khóa cổng vào phía bên trong nhà, C đẩy xe mô tô đi bộ được một đoạn thì C nhìn thấy Q và H1 đã về nên đẩy xe mô tô quay lại nhà T1 tìm tài sản chiếm đoạt. Chen mở cửa cổng nhỏ nhà T1 đi vào bên trong thì thấy T1 đang nằm ngủ trên võng và thấy cái ví da màu đen bên trong có số tiền để trên bàn gỗ gần nơi T1 nằm ngủ, C lấy cái ví da của T1 kiểm tra bên trong thấy có 20.000.000 đồng, C lấy hết số tiền này cất giấu vào túi quần bên phải C đang mặc trên người rồi để ví da lại vị trí cũ và đi ra lấy xe mô tô điều khiển đi đến cửa hàng điện thoại di động bảng hiệu Thành Phát ngụ tại ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An do Phùng Ngọc Duy H làm chủ mua 01 điện thoại di động hiệu S A10S, màu đỏ và 01 sim điện thoại số 0898.615.xxx hết 1.500.000 đồng. Sau đó, C tiếp tục điều khiển xe đi đến quán cà phê không biển hiệu thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà qua mạng thua hết 11.500.000 đồng; C tiêu xài cá nhân hết 4.200.000 đồng, còn lại 2.800.000 đồng Chen giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra quản lý.

Đến ngày 28/7/2023, T1 trình báo sự việc đến Cơ quan Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đề nghị xử lý Trương Thị C theo quy định pháp luật.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • Số tiền: 2.800.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10S màu đỏ, sim số: 0898615098;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 62K1-184.36, số khung: RLCS5C6J0FY124971, số máy: 5C6J-124977.

3

Ngày 20/3/2024, bị cáo Trương Thị C đã đồi thường cho bị hại Lê Chí T1 tổng số tiền là 17.200.000 đồng.

Qua điều tra xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đỏ đen, biển số 62K1-184.36, số khung: RLCS5C6J0FY124971, số máy: 5C6J-124977 là tài sản của bị cáo Trương Thị C mua lại của người phụ nữ không biết tên vào khoảng đầu năm 2023 để sử dụng, chưa làm thủ tục sang tên chuyển quyền sở hữu.

Tại Cáo trạng số 68/CT-VKSĐH ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Thị C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị C trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, bị cáo không tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Trương Thị C gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trương Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Trương Thị C mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về xử lý tang vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành trao trả cho bị hại Lê Chí T1 số tiền 2.800.000 đồng theo biên bản trả tài sản ngày 20/3/2024 là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu đỏ, sim số: 0898615098 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đỏ đen, biển số 62K1-184.36, số khung: RLCS5C6J0FY124971, số máy: 5C6J-124977 đề nghị trả lại cho bị cáo.

Phần trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Chí T1 đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt là 20.000.000 đồng, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

4

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, bị hại ông Lê Chí T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tuy nhiên những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Thị C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường ngày 29/7/2023, cũng như người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm định tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ ngày 27/7/2023, tại nhà của Lê Chí T1, thuộc ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Trương Thị C có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 20.000.000đồng của Lê Chí T1 cất trong ví da màu đen để trên bàn ở trong nhà T1. Đến ngày 28/7/2023, Lê Chí T1 trình báo sự việc đến Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An tố cáo yêu cầu xử lý Trương Thị C theo quy định pháp luật.

Hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng của bị cáo Trương Thị C đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Thị C theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Trương Thị C gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của các bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương là mầm móng của nhiều hành vi phạm tội khác.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng nhưng bị

5

cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trương Thị C thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, có ý thức ăn năn hối cải. Bị cáo Trương Thị C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại xong cho bị hại Lê Chí T1 và bị hại Lê Chí T1 xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trương Thị C là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4]. Căn cứ mục [2] và [3], Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Trương Thị C là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Trương Thị C trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn nên mới thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trương Thị C là phù hợp.

[6]. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với số tiền 2.800.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành trao trả cho bị hại ông Lê Chí T1 theo biên bản trả tài sản ngày 20/3/2024 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu đỏ, sim số: 0898615098 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đỏ đen là tài sản của bị cáo C. Bị cáo đã trả và bồi thường cho bị hại xong, bị hại không có yêu cầu gì khác và bị cáo có nhu cầu nhận lại tài sản trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận cần trả lại tài sản trên cho bị cáo là phù hợp.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị hại ông Lê Chí T1 trình bày đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt là 20.000.000đồng và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Đối với Phùng Ngọc Duy H có hành vi bán cho bị cáo Trương Thị C 01 điện thoại di động nhã hiệu S A10S, màu đỏ và 01 sim điện thoại số 0898.615.xxx với giá 1.500.000đồng nhưng H không biết số tiền bị cáo C sử dụng mua điện thoại di động và sim điện thoại của H là do bị cáo C phạm tội mà có nên hành vi của H không cấu thành tội phạm có liên quan.

6

[9]. Đối với việc bị cáo C khai báo sau khi chiếm đoạt được tiền của bị hại Lê Chí T1, bị cáo C đã đến quán cà phê không biển hiệu thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà qua mạng Internet thua hết 11.500.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định tách hành vi số 103 ngày 26/3/2024 để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[10]. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Thị C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
    Xử phạt: Bị cáo Trương Thị C 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Trương Thị C tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  2. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    Trả lại cho bị cáo Trương Thị C 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu đỏ gắn sim số: 0898615098 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 62K1-184.36, số khung: RLCS5C6J0FY124971, số máy: 5C6J-124977.
    Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2024.
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Thị C phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
  4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

7

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Đức Hòa;
  • - CQ THAHS Công an huyện Đức Hòa
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị C phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger