Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST
Ngày 27 - 11 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Bảo Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Hải;

Ông Nguyễn Hoành Đại.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với:

- Bị cáo Lê Bá Đ, sinh ngày 06/10/1976 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: 038207015382; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hùng C (Đã chết) và bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1939; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; Vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1979, có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con thứ nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Lê Bá Đ hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2024.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị G, sinh năm 1938; (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Đa S, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1950;

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

+ Ông Lê Văn N, sinh năm 1937;

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/7/2024, Lê Bá Đ điều khiển xe công nông đầu ngang (dạng xe tự chế) chở phế liệu xây dựng từ nơi làm nhà của bà Lê Thị T2 tại thôn T đến nơi đổ phế liệu là bờ ao của gia đình ông Lê Thanh S1 ở cùng thôn, bờ ao nằm phía trước cổng nhà anh Lê Đình T3 tại số nhà I đường số A thôn T, xã H, huyện H. Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi phế liệu được đưa lên xe, Đ điều khiển xe công nông đầu ngang di chuyển trên đường số A thôn T, khi đến ngã ba, do đoạn đường rẽ vào bãi đổ phế liệu hẹp và chỗ đổ phế liệu không có chỗ quay đầu xe nên Đ đã điều khiển xe công nông lùi từ ngã ba theo đường số A thôn T vào bãi đổ. Khi bắt đầu lùi xe, Đ thấy các cụ ông, cụ bà gồm: ông Lê Văn T4, bà Nguyễn Thị H, ông Lê Văn N, bà Lê Thị G, bà Lê Thị Á và bà Nguyễn Thị Bích T5 (vợ ông T3) đang ngồi hóng mát trên đường số A phía trước bờ ao nhà ông T4, cách ngã ba khoảng 20 m, cách cổng nhà ông T3 khoảng 06m. Khi lùi xe vào ngõ, Đ hô lớn 02 lần “Các ông, các bà, các bác đứng lên đi vào, cho em lùi xe vào cái”, vừa hô Đ vừa điều khiển xe lùi dần vào. Nghe thấy vậy mọi người đứng dậy cầm ghế mình đang ngồi đi về phía nhà ông T3 để tránh xe, riêng bà G thì đứng dậy rồi đứng nép về phía tường bao nhà ông T3. Thấy mọi người đã đứng lên di chuyển nên Đ tiếp tục cho xe lùi vào và quan sát hai bên gương chiếu hậu. Do trên đường vào trong có 01 cây nhãn nằm ở phía bên phải đường (theo chiều từ ngã ba đi vào), cây nằm sát mép đường bê tông, vị trí cây nhãn cách chỗ các cụ ông cụ bà ngồi khoảng 1m đến 2m nên làm cho đoạn đường đi vào bị nhỏ lại. Điệp tập trung quan sát gương chiếu hậu bên trái để điều khiển xe tránh va chạm với gốc nhãn. Đ điều khiển đuôi xe về phía tay phải và từ từ lùi vào cho đến khi vị trí thùng xe công nông cách vị trí cây nhãn khoảng 02m thì bất ngờ nghe thấy tiếng kêu la “Ối giời ơi! Ổ trời ơi!” nên Đ quay đầu nhìn về phía sau bên phải của mình thì thấy bà G đang đứng trên đường ngõ, lưng tựa tường bao nhà ông T3 bị kẹt giữa bên phải xe công nông (khung kim loại dạng chữ U úp ngược, dựng thẳng đứng trên đầu xe công nông) với tường nhà ông T3. Thấy thế, Đ đạp phanh xe, dừng xe, tắt máy và xuống cùng ông T4 và bà T5 gỡ bà G khỏi bị kẹt và đưa bà G ra phía trước đầu xe nằm xuống đường để sơ cứu. Thấy bà G liên tục kêu đau nên mọi người đưa bà G về nhà, còn Đ điều khiển xe công nông lùi vào bãi và đổ phế liệu. Tiếp đó Đ điều khiển xe đến nhà bà T2 để xe ở đó rồi đi đến nhà bà G, Đ cùng gia đình bà G đưa bà đi cấp cứu tại bệnh viện Đ3 và sau đó chuyển viện đến Bệnh viện Đ4 nhưng đến 18 giờ 50 phút cùng ngày thì bà G tử vong.

Nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện. Kết quả như sau:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường số A thôn T, xã H, huyện H mặt đường làm bằng bê tông xi măng, lắp đặt hệ thống biển báo hiệu giao thông đường bộ, không có hệ thống camera của trạng bằng phẳng, do thực tế chiều rộng mặt đường có kích thước 250cm, không có cơ quan, tổ chức hay cá nhân, gia đình.

Ghi nhận đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  • (1) Vết cả trượt, kích thước: (100 x 20) cm
  • (2) 03 mảnh gỗ, kích thước: (30 x 25 )cm
  • (3) Vết tỷ trượt, kích thước: (35 x 3) cm

Xác định điểm mốc chuẩn: do vuông góc từ cuối vết (1) đến cột cổng phía Đông Bắc nhà số I đường số A thôn T là 680cm; lấy mép đường bên phải theo hướng T - Đ làm mép đường chuẩn.

Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết như sau:

(1)Trên mặt đường bê tông phía bên trái đường theo hướng T - Đông Bắc để lại vết cả trượt làm mòn bê tông, kích thước: (100 x 20) cm, đo từ đầu vết (1) đến mép đường chuẩn là 220cm.

(2) Trên mép đường chuẩn phía bên phải đường theo hướng T - Đông Bắc để lại 03 mảnh gỗ có kích thước: (30x25) cm, tại các mảnh gỗ có bám dính chất màu trắng đục dạng bê tông. Đo vuông góc từ tâm vết (2) đến đầu vết (1) là 30cm.

Tại bờ tường của nhà số I đường số A thôn T ở mép đường bên trái đường số 01 theo hướng T - Đ để lại vết tỷ trượt sạch bụi đất, mòn rong rêu, kích thước: (35 x 3) cm, vết cao cách mặt đất 97 – 100 cm, đo vuông góc từ cuối vết (3) đến cột cổng phía Đông Bắc nhà số I đường số A thôn T là 610cm, đo vuông góc từ đầu vết (3) đến cuối vết (1) là 45cm.

Ngay trên mép đường chuẩn tiếp giáp bờ ao nhà ông Lê Văn T4, ở thôn T, xã H, H, Thanh Hóa là cây nhãn đường kính thân cây 29cm, do vuông góc từ thân cây nhãn đến cổng phía Đông Bắc nhà số I đường số A thôn T là 530cm.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của bà Lê Thị G.

Tại bản Kết luận giám định số 2722/KLGĐTT-PC09 ngày 23/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T: Xác định nguyên nhân chết của bà G là do đa chấn thương .

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trưng cầu giám định dấu vết trên phương tiện:

Tại Bản kết luận giám định số 2860/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K Công an Tỉnh T kết luận:

  • Dấu vết tỳ trượt tại mặt ngoài bên phải đầu xe ô tô tự chế dạng công nông ngang phù hợp do va chạm với dạng quần áo và người bà G tạo nên.
  • Không đủ cơ sở xác định chiều hướng di chuyển của xe ô tô tự chế dạng công nông đầu ngang và bà G.
  • Không đủ cơ sở xác định vị trí va chạm giữa xe ô tô tự chế dạng công nông ngang với bà G trên mặt đường.
  • Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe ô tô tự chế dạng công nông đầu ngang và bà Lê Thị G.

Kiểm tra nước tiểu, test chất gây nghiện đôi với Đ, kết quả âm tính với MET,THC,MDMA,MOP; Kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Đ, kết quả: 0,000mg/l.

Tại công văn số 5243/SGTVT-QLPT&NT ngày 28/8/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa trả lời: “Theo Chỉ thị số 1405/CT-TTg ngày 30/9/2008 về việc tiếp tục thực hiện quản lý xe công nông, xe cơ giới ba bánh, xe thô sơ ba, bốn bánh theo quy định tại Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 và Nghị quyết số 05/2008/NQ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ.

Tại điểm c, Mục 1 của Chỉ thị nêu rõ:

Thực hiện nghiêm việc đình chỉ tham gia giao thông đối với các phương tiện sau:

Xe công nông được lắp ráp từ các động cơ diezen một xi lanh và tận dụng các tổng thành ô tô, còn được gọi là xe đầu ngang, xe độ chế.

Để xác định được loại phương tiện phải căn cứ theo hồ sơ nguồn gốc của phương tiện theo văn bản mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H cung cấp không có hồ sơ, không có Đăng ký, Đăng kiểm nên việc xác định phương tiện và những quy định khác có liên quan của phương tiện là chưa có cơ sở”.

Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 quy định: “Kể từ ngày 01/01/2008 đình chỉ lưu hành ô tô đã hết niên hạn sử dụng, xe công nông, xe tự chế 3, 4 bánh”. Vì vậy loại xe này sẽ không có đăng ký, đăng kiểm.

Về vật chứng của vụ án: Thu giữ: 01 chiếc áo sơ mi ngắn tay màu nâu, chấm trắng, chiều dài thân áo 61cm, chiều rộng thân áo sau 46cm, chiều rộng thân áo trước hai bên 25 cm, áo đã qua sử dụng của bà G. Cơ quan điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý tài sản đồ vật, tài liệu trả lại cho người đại diện hợp pháp của bà G là anh Lê Đa S.

Đối với 03 mảnh gỗ khích thước (30x25) cm; 01 (một) xe công nông đầu ngang (Xe công nông được lắp ráp từ các động cơ diezen một xi lanh và tận dụng các tổng thành ô tô, còn được gọi là xe đầu ngang, xe độ chế) của Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa, chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án, Đ và gia đình bị hại đã thỏa thuận, bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Lê Đa S số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), gia đình anh S không có yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự và có đề nghị xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho Đ.

Cáo trạng số 92/CT-VKSHH ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, đã truy tố bị cáo Lê Bá Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Lê Bá Đ phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; xử phạt bị cáo Lê Bá Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: xử lý theo quy định của pháp luật; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại anh Lê Đa S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện H, Cơ quan Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Bá Đ tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 11/7/2024, tại đoạn đường số A thôn T xã H, huyện H, Lê Bá Đ điều khiển xe tự chế dạng công nông đầu ngang do không chú ý quan sát khi lùi xe, dẫn đến phần đầu xe va chạm với bà Lê Thị G. Hậu quả bà G bị thương và tử vong cùng ngày.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Bá Đ đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ, do đó đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tội danh và khung hình phạt áp dụng cho bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]Về các căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm quy định khi tham gia giao thông, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác;

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự;

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có gia đình hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi mẹ già và con nhỏ; bản thân bị cáo trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội trong tình trạng hiện nay trên địa bàn đang có xu hướng gia tăng, phức tạp với tỷ lệ người chết tăng cao. Do đó, đáng ra cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với lỗi vô ý và có nơi cư trú rõ ràng, nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là đủ, tạo điều kiện để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà nghiêm túc cải sửa, trở thành công dân tốt và cũng phù hợp với quy định của Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có thu nhập ổn định, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo cùng đại diện cho người bị hại đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Đại diện cho người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nữa, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 03 (ba) mãnh gỗ kích thước (30x25) cm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) xe công nông đầu ngang (xe được lắp ráp từ động cơ diezen một xi lanh và tận dụng các tổng thành ô tô, còn gọi là xe đầu ngang, xe tự chế) của Lê Bá Đ, xe đã cũ, gỉ, qua sử dụng, không hoạt động được, không rõ chất lượng. Do xe công nông là phương tiện bị cấm lưu hành, nên tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ theo quy định tại Nghị quyết số 32/2007/NQ- CP ngày 29/6/2007 về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 46, Điều 47, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông; và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Lê Bá Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Bá Đ 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Bá Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) mãnh gỗ kích thước (30x25) cm.
  • Tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ: 01 (một) xe công nông đầu ngang (xe được lắp ráp từ động cơ diezen một xi lanh và tận dụng các tổng thành ô tô, còn gọi là xe đầu ngang, xe tự chế) của Lê Bá Đ.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 05/BBGN ngày 15/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện H;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện H;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Bị cáo; Người đại diện của bị hại;
  • - UBND xã H, huyện H;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Bảo Yến

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀNG HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi.....giờ.....ngày 27 tháng 11 năm 2024;

Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Bảo Y

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc H1;

Ông Nguyễn Hoành Đ2.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với:

- Bị cáo Lê Bá Đ, sinh ngày 06/10/1976 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: 038207015382; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hùng C (Đã chết) và bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1939; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; Vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1979, có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con thứ hai sinh năm 2004, con thứ ba sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Lê Bá Đ hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2024.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị G, sinh năm 1938; (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Đa S, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1950;

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

+ Ông Lê Văn N, sinh năm 1937;

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về điều luật áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 46, Điều 47, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông; và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Bá Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Bá Đ 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Bá Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Các vấn đề khác:

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) mãnh gỗ kích thước (30x25) cm.
  • Tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ: 01 (một) xe công nông đầu ngang (xe được lắp ráp từ động cơ diezen một xi lanh và tận dụng các tổng thành ô tô, còn gọi là xe đầu ngang, xe tự chế) của Lê Bá Đ.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 05/BBGN ngày 15/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Hải Nguyễn Hoành Đại Phạm Bảo Y

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Bá Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger