|
TAND HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HS - ST Ngày: 15/7/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh P, Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST - HS ngày 03/07/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/5/1993; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT + chỗ ở: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1964; con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Vũ Thị L1, sinh năm 2000; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 05/6/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
- Họ và tên: Dương Đình T1, sinh ngày 10/5/1987; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT + chỗ ở: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Dương Văn H, sinh năm 1962; Con bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1961. Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Đặng Thị H2, sinh năm 1990. Có 02 con: Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 05/6/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn T2, sinh 10/5/1993; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở hiện nay: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên BQL chợ Đ; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1964; con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1995. Có 02 con: lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 05/6/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
- Họ và tên: Đặng Xuân P1, sinh 19/8/1997; Giới tính: Nam Nơi ĐKNKTT + chỗ ở: Tổ dân phố B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Đặng Xuân B, sinh năm 1965; con bà Phạm Thị T3, sinh năm 1968. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Hoàng Thị T4, sinh năm 1999. Có 01 con sinh 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 05/6/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
* Người chứng kiến: Ông Vũ Văn C, sinh năm 1968. Địa chỉ: TDP C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/6/2024, Nguyễn Văn T đang bán hàng tại cửa hàng X của mình tại Chợ Đ, thị trấn H, huyện Đ thì có Nguyễn Văn T2, Đặng Xuân P1, Dương Đình T1 đến chơi, trong khi ngồi chơi và nói chuyện, cả nhóm rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh sâm được thua bằng tiền. Cả nhóm đồng ý rồi rủ nhau lên tầng 02 phòng ngủ của cửa hàng T. Khi vào trong phòng thì cả nhóm ngồi lên chiếu nhựa màu nâu trải ở đệm trong phòng ngủ; P1 đi lấy bộ tú lơ khơ có sẵn trong phòng ngủ rồi cả nhóm ngồi đánh bạc đến khoảng 15h00' cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Đ và Công an thị trấn H, huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng, gồm: Thu giữ tại chiếu bạc tại vị trí các đối tượng đánh bạc số tiền 13.110.000đồng; 01 bộ tú lơ khơ; 01 chiếu nhựa màu nâu; Thu giữ trên người Dương Đình T1 số tiền 10.240.000đồng. Đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu, đối tượng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Về hình thức đánh bạc: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, lần lượt chia cho mỗi người 10 quân. Khi lên bài nếu người nào báo sâm thì người báo sâm được đi đầu tiên, nếu đánh hết 10 quân bài trên tay mà không bị chặn thì những người chơi còn lại mỗi người phải mất cho người báo sâm số tiền là 100.000đồng. Nếu người báo sâm mà bị chặn thì người báo sâm phải mất cho người đã chặn bài của mình số tiền 400.000 đồng. Khi lên bài nếu không có ai báo sâm thì người chia bài sẽ đánh đầu tiên theo vòng chiều kim đồng hồ nếu ai đánh hết 10 quân bài trước thì người đó thắng. Những người còn lại đếm số lá bài trên tay, mỗi lá còn lại phải trả cho người thắng số tiền 10.000đồng/lá. Người không đánh được quân bài nào thì C1. Người cháy phải mất cho người thắng số tiền 70.000đồng.
Khi đánh bạc Nguyễn Văn T có 500.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Văn T2 có 1.800.000 đồng để đánh bạc; Đặng Xuân P1 có 810.000 đồng để đánh bạc; Dương Đình T1 mang theo 20.240.000đồng bỏ ra số tiền 10.000.000 đồng để đánh bạc, còn lại 10.240.000 đồng thu giữ trên người của T1 (Từ khai không sử dụng để đánh bạc). Như vậy tổng số tiền các đối tượng đánh bạc ngày 02/06/2024 tại cửa hàng của Nguyễn Văn T là 13.110.000 đồng.
Vật chứng của vụ án gồm: 23.350.000 đồng tiền Ngân hàng N1 (Trong đó có 13.110.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc; 10.240.000 đồng là tiền thu giữ trên người của Từ); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa màu nâu.
Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 80/QĐ-VKSĐT ngày 01/7/2024 của VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Đình T1, Nguyễn Văn T2 và Đặng Xuân P1 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Đại Từ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX: áp dụng khoản 1,3 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 BLHS; xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Đình T1, Nguyễn Văn T2 và Đặng Xuân P1, mỗi bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Đều xác định việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội; xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
{1}. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điểu tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2.}Về căn cứ buộc tội: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
Nội dung Điều 321 Bộ luật hình sự quy định.
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
{3}. Xét tính chất hành vi và vai trò phạm tội của các bị cáo:
Tính chất hành vi đánh bạc của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong vụ án này, các bị cáo đều có vai trò đồng phạm giản đơn như nhau là người thực hiện hành vi “Đánh bạc”.
{4}. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: "Người phạm tội thành khẩn khai báo" và "Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
{5}. Xét nhân thân của các bị cáo, thấy:
Các bị cáo đều được sinh ra và lớn lên trong gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đủ nhận thức về các việc làm đúng sai của bản thân; đều là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng do ham chơi và coi thường pháp luật nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
{6}. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy, các bị cáo đều là những người lao động bình thường, có nhân thân tốt, đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số lượng tiền tham gia đánh bạc đủ định lượng cấu thành tội phạm, đều có động cơ, mục đích phạm tội là người thực hiện với vai trò đồng phạm giản đơn. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, HĐXX cần cân nhắc, xem xét một cách khách quan, toàn diện kết hợp với các yếu tố nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt tù cho phù hợp, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật vừa đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy, cần phạt 4/4 bị cáo, mỗi bị cáo một khoản tiền theo quy định của pháp luật để sung công quỹ nhà nước.
{7}.Về vật chứng vụ án:
- + 23.350.000 đồng tiền Ngân hàng N1, trong đó có 13.110.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ;
- + Số tiền 10.240.000 đồng là tiền thu giữ trên người của bị cáo T1. Xác định không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- + 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa màu nâu. Là công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
{8}. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Đình T1, Nguyễn Văn T2, Đặng Xuân P1 phạm tội “Đánh bạc”;
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Dương Đình T1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Văn T2 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Đặng Xuân P1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Từ, P1 cho UBND thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; bị cáo T cho UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; bị cáo T2 cho UBND xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.
* Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS. Phạt các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Đình T1, Nguyễn Văn T2, Đặng Xuân P1, mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười) triệu đồng.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;
- + Tịch thu sung công quỹ số tiền: 13.110.000 đồng;
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa màu nâu;
- + Trả lại cho bị cáo Dương Đình T1 10.240.000 đồng nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 70/QĐ-VKSĐT ngày 01/7/2024 của VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cùng các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Đình T1, Nguyễn Văn T2, Đặng Xuân P1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
An xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Kiên |
Bản án số 78/2024/HS - ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 78/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T + đồng phạm đánh bạc
