Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 19 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn
Thẩm phán: Ông Trần Anh Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Gia Cát - Cán bộ hưu trí
Ông Nguyễn Xuân Hà - Cán bộ hưu trí
Ông Trần Văn Lý - Giáo viên hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trương Quang Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Minh C, sinh năm 1994, tại Khánh Hòa; nơi đăng ký HKTT: Tổ D Phước Toàn T, P, N, Khánh Hòa; chỗ ở: Tổ A V, V, N, Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn O (chết) và bà Phan Thị T (1966); có vợ là bà Trần Thị Mỹ T1 (1997) và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 22/8/2023; có mặt tại phiên tòa.
  2. Hoàng Võ Phi L, sinh năm 1999, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ A V, V, N, Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Hoàng Thị Hoài T2 (1966) và cha: không rõ; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 22/8/2023; có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Huỳnh T3, sinh năm 2000, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: V, V, N, Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh V (1972) và bà Huỳnh Ngọc S (1974); tiền án: Ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 180/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/11/2022; nhân thân: Ngày 23/6/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 232/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/01/2018; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 22/8/2023; có mặt tại phiên tòa.
  4. Lê Trương H, sinh năm 2002, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ A N, N, N, Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 (1960) và bà Đinh Thị Kim Đ (1977); tiền án; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày từ 18/01/2024 đến ngày 01/3/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.
  5. Lê Tấn T4, sinh năm 2000, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ B V, V, N, Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Lê Thị H2 (1979) và cha: không rõ; có vợ là bà Nguyễn Thị H3 và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 18/01/2024; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3: Luật sư Phan Bạch M, Văn phòng L2 (bào chữa theo yêu cầu của Tòa án); địa chỉ: A L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Trương H, Lê Tấn T4: Luật sư Nguyễn Thị Như N, Văn phòng L3 (bào chữa theo yêu cầu của Tòa án); địa chỉ: A N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Quốc C1, sinh năm 1987; nơi cư trú: A H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đinh Thị Kim Đ, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ A N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  2. Bà Lê Thị H2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn X, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Hàn Nhựt B, sinh năm 1989; nơi cư trú: 564 đường B, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Ông Phạm Hữu T5, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  3. Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  4. Bà Bùi Hồng N1, sinh năm 2001; nơi cư trú: Ô, lô 581, H, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  5. Bà Nguyễn Thị Ngọc T7, sinh năm 2004; nơi cư trú: T, H, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  6. Bà Nguyễn Thị Kim T8, sinh năm 1995; nơi cư trú: 4 L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  7. Ông Hàng Quốc L1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ F V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  8. Ông Hàng Văn P, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ F V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Tất cả người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Minh CNguyễn Thị Kim T8 có quan hệ tình cảm với nhau và là bạn của Hoàng Võ Phi L, Lê Tấn T4, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H, Nguyễn Thị Ngọc T7.

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 12/3/2023, T8 cùng với T7, H đến quán C3 (số E đường B, V, N) uống nước, đợi đến giờ dự đám cưới tại Làng Y, V, N. Lúc này, Hàn Nhựt B, Phạm Hữu T5, đang chuẩn bị ăn uống trước nhà B (số E đường B, V, N) nhìn thấy T8, T7 thì chọc ghẹo. Một lúc sau T8, T7, H vào dự đám cưới cùng với C, L, T4, T3, còn B gọi thêm Nguyễn Văn T6, Bùi Hồng N1, Nguyễn Quốc C1 đến ăn uống cùng. Quá trình dự đám cưới thì T8, H kể cho C nghe việc bị nhóm B chọc ghẹo nên C nảy sinh ý định đánh nhóm B.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi đám cưới kết thúc thì C sử dụng xe mô tô chở H để H chỉ nơi nhóm B đang ăn uống, sau đó quay lại bãi giữ xe rồi cùng L, T3, T4 đi xe đến lề đường 23/10, hướng đối diện nhà B. Lúc này, C nhặt 02 viên gạch 04 lỗ kích thước (18x8x8)cm chạy bộ băng qua đường trước; H cũng nhặt 02 viên gạch; L, T3, T4 không cầm gì chạy theo sau C mục đích để đánh nhóm B. Khi C chạy đến cách chỗ nhóm B ăn uống khoảng 1-2m thì ném mạnh 02 viên gạch vào nhóm B, trong đó có 01 viên trúng vào đầu Nguyễn Quốc C1 đang ngồi quay lưng ra đường. C1 ngã xuống thì C, T3, L xông đến dùng tay, chân tiếp tục đánh vào người của C1. B, T6, T5 thấy vậy bỏ chạy vào trong nhà B thì C, T3 cầm ghế nhựa đuổi đánh vào nhà B, còn H thấy C1 bất tỉnh thì ném lại 02 viên gạch trước nhà B rồi cả nhóm bỏ đi. C1 được đưa vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh K cấp cứu và điều trị đến ngày 24/3/2023 xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định số 361/23/KLTTCT-PYKH ngày 31/3/2023 kết luận tổn thương cơ thể của Nguyễn Quốc C1:

  • Vùng chẩm có 01 vết thương kích thước trung bình, tỷ lệ thương tật 02%.
  • Mặt trước vành tai trái có 01 vết thương, tỷ lệ thương tật 02%.
  • Mặt sau vành tai trái có 01 vết thương, tỷ lệ thương tật 02%.
  • Sau tai trái có 01 vết thương kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật 01%.
  • Vùng gò má phải có 01 vết thương kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật 03%.
  • Vùng mu tay trái có 01 vết thương kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật 01%.
  • Vùng cẳng chân trái sây sát da kích thước lớn, tỷ lệ thương tật 03%.
  • Khuyết sọ đường kính 5,5cm đáy phập phồng, tỷ lệ thương tật 28%.
  • Dập não đường kính 2cm, tỷ lệ thương tật 27%.
  • Xuất huyết não, đã điều trị, hiện tại không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh, tỷ lệ thương tật 09%.
  • Tụ máu dưới màng cứng, tỷ lệ thương tật 13%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Quốc C1 là 64%. Kết luận khác: Vết thương gây nguy hiểm đến tính mạng.

Bản cáo trạng số 31/CT-VKSKH-P1 ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H, Lê Tấn T4 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên nội dung đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H4, Lê Tấn T4 phạm tội “ Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Minh C. Xử phạt bị cáo Lê Minh C từ 13 đến 14 năm tù.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh T3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T3 từ 11 đến 12 năm tù.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Võ Phi L. Xử phạt bị cáo Hoàng Võ Phi L từ 09 đến 10 năm tù.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Lê Trương HLê Tấn T4. Xử phạt bị cáo Lê Trương H từ 06 đến 07 năm tù, xử phạt bị cáo Lê Tấn T4 từ 05 đến 06 năm tù.

Về trách dân sự: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với bị hại,

Vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 viên gạch, 01 ghế nhựa vì không còn giá trị sử dụng.

- Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo :

- Luật sư Phan Bạch M bào chữa cho các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3 trình bày: Sau khi phạm tội các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3 đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại. Bị cáo Lê Minh C đã bồi thường toàn bộ số tiền bị hại yêu cầu là 40.000.000 đồng. Bị cáo L đã bồi thường 10.000.000 đồng; bị cáo T3 bồi thường được 5.000.000 đồng. Các bị cáo đều được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo C, L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội chưa đạt và do bột phát. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

- Luật sư Nguyễn Thị Như N bào chữa cho các bị cáo Lê Trương H, Lê Tấn T4 trình bày: Không có ý kiến về tội danh đã truy tố. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình đến xin lỗi, bồi thường cho bị hại Nguyễn Quốc C1 để khắc phục một phần hậu quả. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền bị hại tiếp tục yêu cầu và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo có tham gia nhưng không tham gia đánh, không có gây thương tích cho bị hại, vai trò của các bị cáo có phần hạn chế, thứ yếu không đáng kể trong vụ án. Do đó, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

- Các bị cáo đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật sư, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H4, Lê Tấn T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, và các tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20h30 ngày 12/3/2023, tại trước nhà anh Hàn Nhựt B (số E đường B V, N, Khánh Hòa), Lê Minh C cầm 02 viên gạch 04 lỗ kích thước (18x8x8)cm, Lê Trương H cầm 02 viên gạch cùng Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Tấn T4 chạy băng qua đường xông vào đánh nhóm B. Lê Minh C ném 01 viên gạch trúng vào vùng đầu của anh Nguyễn Quốc C1 ngã xuống thì Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3 xông vào dùng tay, chân đánh anh C1 làm Nguyễn Quốc C1 bị khuyết sọ, dập não, xuất huyết não, tụ máu dưới màng cứng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 64%.

Các bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn nhưng các bị cáo tấn công vào vùng trọng yếu của bị hại, có khả năng gây tử vong cao, bị hại không chết là ngoài ý muốn của các bị cáo. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật. Do đó, Cáo trạng số 31/CT-VKSKH-P1 ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H4, Lê Tấn T4 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến thân thể của bị hại, bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, thể hiện tính côn đồ hung hãn nên cần xử phạt nghiêm, cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo:

5.1. Đối với bị cáo Lê Minh C: Giữa các bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn nhưng bị cáo đã dùng tay đánh và dùng viên gạch là hung khí nguy hiểm ném vào đầu bị hại C1, sau đó dùng tay chân, ghế nhựa tiếp tục đánh đá vào người bị hại C1 trong tình trạng không còn khả năng tự vệ.

Thương tích của bị hại chủ yếu là do bị cáo C gây ra. Hành vi của bị cáo C tích cực nhất, có mức độ nguy hiểm hơn so với các bị cáo khác. Do đó, cần xử phạt mức án cao hơn so với các bị cáo khác.

5.2. Đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh T3, Hoàng Võ Phi L.

Sau khi Lê Minh C ném viên gạch làm cho bị hại ngã xuống, các bị cáo cùng Lê Minh C tiếp tục dung tay chân đánh bị hại C1, thể hiện vai trò tích cực trrong vụ án.

5.3. Đối với các bị cáo Lê Trương H, Lê Tấn T4. Các bị cáo có tham gia nhưng không cùng với các bị cáo Lê Minh C, Nguyễn Huỳnh T3, Hoàng Võ Phi L gây thương tích cho bị hại. Do đó, vai trò của các bị cáo có phần hạn chế, ít nguy hiểm hơn so với các bị cáo khác.

[6] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

6.1. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Huỳnh T3 đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý. Do đó, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

6.2. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình đến xin lỗi, bồi thường cho bị hại Nguyễn Quốc C1 để khắc phục một phần hậu quả. Bị cáo Lê Minh C đã bồi thường toàn bộ số tiền bị hại yêu cầu và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H, Lê Tấn T4 đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền bị hại tiếp tục yêu cầu và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Lê Trương H, Lê Tấn T4 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt. Các bị cáo Lê Trương H, Lê Tấn T4 tham gia nhưng có vai trò hạn chế hơn các bị cáo khác nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Quốc C1 yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại 200.000.000 đồng, mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại 40.000.00 đồng. Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền như sau: Bị cáo Lê Minh C bồi thường 40.000.000 đồng, bị cáo Hoàng Võ Phi L bồi thường 10.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Huỳnh T3 bồi thường 5.000.000 đồng, Lê Trương H bồi thường 25.000.000 đồng, bị cáo Lê Tấn T4 bồi thường 10.000.000 đồng.

Bị cáo Lê Minh C đã bồi thường 40.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo Lê Minh C bồi thường thêm.

Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu các bị cáo Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H, Lê Tấn T4 phải liên đới tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Quốc C1 cụ thể số tiền như sau:

Bị cáo Hoàng Võ Phi L bồi thường 30.000.000 đ (Ba mươi triệu đồng), bị cáo Nguyễn Huỳnh T3 bồi thường 35.000.000 đ (Ba mươi lăm triệu đồng), bị cáo Lê Trương H4 bồi thường 15.000.000 đ (Mười lăm triệu đồng), bị cáo Lê Tấn T4 bồi thường 30.000.000 đ (Ba mươi triệu đồng). Các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu bị hại.

Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo với bị hại. Việc thỏa thuận này phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo với đại diện hợp pháp bị hại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Kim Đ, bà Lê Thị H2 có mặt tại phiên tòa không yêu cầu nên không xét.

[8] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra có thu giữ 03 viên gạch, 01 ghế nhựa. Xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Minh C.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Minh C 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam 22/8/2023.

  3. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh T3.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T3 10 (Mười) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2022.

  5. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Võ Phi L.
  6. Xử phạt bị cáo Hoàng Võ Phi L 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam 22/8/2023.

  7. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Trương H.
  8. Xử phạt bị cáo Lê Trương H 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến 01/3/2024.

  9. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Tấn T4.
  10. Xử phạt bị cáo Lê Tấn T4 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam 22/8/2023.

- Về dân sự:

Căn cứ Điều 213; Điều 246 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 587; Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện giữa các bị cáo Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H, Lê Tấn T4 với bị Nguyễn Quốc C1.

Các bị cáo Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H, Lê Tấn T4 phải liên đới tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Quốc C1 cụ thể số tiền như sau:

Bị cáo Hoàng Võ Phi L bồi thường 30.000.000 đ (Ba mươi triệu đồng), bị cáo Nguyễn Huỳnh T3 bồi thường 35.000.000 đ (Ba mươi lăm triệu đồng), bị cáo Lê Trương H4 bồi thường 15.000.000 đ (Mười lăm triệu đồng), bị cáo Lê Tấn T4 bồi thường 30.000.000 đ (Ba mươi triệu đồng).

Quy định: Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 03 viên gạch, 01 ghế nhựa.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K với Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lê Minh C, Hoàng Võ Phi L, Nguyễn Huỳnh T3, Lê Trương H, Lê Tấn T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Huỳnh T3 phải chịu 1.750.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Trương H phải chịu 750.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo Lê Tấn T4Hoàng Võ Phi L mỗi bị cáo phải chịu 1.500.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1 - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Các trại giam, Cơ sở giam giữ khác
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh Khánh Hòa.
  • - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo; Những người tham gia TT khác
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự - giết người

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo: Lê Minh C; Hoàng Võ Phi L; Nguyễn Huỳnh T3; Lê Trương H; Lê Tấn T4 về tội "Giết người"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger