Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 01-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Minh Tân và ông Trần Thế Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phàn Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: TRẦN ĐÌNH THỊNH; sinh ngày 02/02/1991 tại huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

Cư trú tại: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con ông: Trần Khánh T, sinh năm 1963 và bà: Trần Thị V, sinh năm 1963;

Có vợ là: Nguyễn Thị N, sinh năm 1990 và có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: ĐẶNG QUỐC LỊCH; sinh ngày 08/4/1991 tại huyện K, tỉnh Hà Tĩnh;

Cư trú tại: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con ông: Đặng Quốc T1, sinh năm 1959 và bà: Nguyễn Thị H sinh năm 1959;

Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 18/10/2018, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Bà Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1974

Địa chỉ: Tổ D, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Vắng mặt có lý do.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 27/5/2016, Hoàng Văn H2 trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh rủ bị cáo Trần Đình T3, bị cáo Đặng Quốc L và Nguyễn Đức T4 (trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) cùng nhau đi đến đồi cây thuộc thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh với mục đích để bàn bạc việc thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các bị cáo T3, L và T4 đều nhất trí. Tại đây, Hoàng Văn H2 cùng các bị cáo T3, L và T4 cùng nhau bàn bạc, thống nhất thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác bằng hình thức: Sử dụng sim điện thoại không chính chủ được kích hoạt sẵn gọi đến số thuê bao ngẫu nhiên, thông báo cho chủ thuê bao là họ trúng thưởng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH trị giá 60.000.000đồng và 100.000.000đồng tiền mặt theo chương trình mở thưởng của ngân hàng Thương mại cổ phần N1 (V1), đồng thời yêu cầu người đó mua các thẻ nạp tiền điện thoại rồi cung cấp thông tin mã số thẻ, số seri thẻ để làm thủ tục đăng ký xe và phí vận chuyển quà để chiếm đoạt.

Sau khi bàn bạc, thống nhất, T4 sử dụng số thuê bao 0969.974.903 (theo lời khai của các bị cáo T3 và L thì T4 là người sử dụng số điện thoại này) liên lạc được với số thuê bao 0966.634.862 của bà Nguyễn Thanh T2, trú tại tổ dân phố D, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang thông báo bà T2 đã trúng thưởng của V1, phần thưởng trị giá 160.000.000đồng, gồm một xe máy SH trị giá 60.000.000đồng và tiền mặt là 100.000.000đồng và yêu cầu bà T2 mua 08 thẻ nạp tiền điện thoại V2 mệnh giá 500.000đồng rồi cung cấp mã số thẻ, số seri thẻ để làm thủ tục nhận thưởng. Tin nội dung trúng thưởng là thật, bà T2 đến cửa hàng Thế giới di động tại ngã ba Cảnh sát giao thông thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang mua 08 thẻ nạp tiền điện thoại V2, mệnh giá 500.000đồng rồi đọc số thẻ, số seri cho các đối tượng.

Sau khi lừa được tiền của bà T2, bị cáo T3 tiếp tục dùng điện thoại lắp số thuê bao 0969.974.903 do T4 đưa, giả danh là Phan Công M (là người sẽ chuyển phần thưởng) yêu cầu bà T2 tiếp tục mua thẻ điện thoại V2 với số tiền 9.500.000đồng để làm thủ tục đăng ký xe SH và trả phí vận chuyển, tin là thật bà T2 tiếp tục đến cửa hàng T6 thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang mua thẻ nạp V2 nhiều mệnh giá 300.000đồng, 500.000đồng với tổng số tiền 9.500.000đồng và đọc luôn mã số thẻ, số seri cho bị cáo T3, T3 bảo bị cáo L ghi lại mã số thẻ, số seri vào điện thoại của L rồi chuyển sang cho T4 qua tin nhắn để T4 mang đi bán cho chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh với tỷ lệ mệnh giá thẻ nạp 100.000đồng lấy 65.000đồng tiền mặt.

Với cách thức trên, các bị cáo T3, L và H2, T4 tiếp tục sử dụng số điện thoại 01673828xxx gọi cho bà T2, yêu cầu mua thêm thẻ nạp tiền rồi gửi mã số thẻ, số seri của thẻ cho các đối tượng 03 lần, trong đó: 01 lần mua thẻ với tổng số tiền 13.000.000đồng với lý do là ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam, 01 lần mua thẻ với tổng số tiền 17.000.000đồng, 01 lần mua thẻ với tổng số tiền 22.000.000đồng để hoàn tất hồ sơ chuyển quà rồi đem bán cho chị Nguyễn Thị H1 với tỷ lệ mệnh giá thẻ nạp 100.000đồng lấy 65.000đồng tiền mặt, số tiền trên các bị cáo và H2, T4 đã chi tiêu cá nhân hết (theo bị cáo T3 khai: Sau khi lừa được chị T2 thì bị cáo T3 đi nấu cơm, giao điện thoại cho bị cáo L và H2 tiếp tục lừa chị T2, còn bị cáo L khai giao điện thoại của mình lắp sim số thuê bao có các số cuối là “499” để H2 sử dụng trực tiếp liên hệ lừa chị T2).

Theo các bị cáo T3, L khai báo: Nguyễn Đức T4 là người trực tiếp bán các mã thẻ nạp tiền cho chị Nguyễn Thị H1. Số tiền bán các mã thẻ lừa của bà T2 thì các bị cáo L, T3 và H2, T4 cùng nhau sử dụng đi ăn uống, vui chơi tại thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, T4 là người cầm tiền chi trả. Sau đó, T4 chia số tiền còn lại cho 4 người, bị cáo T3 được chia số tiền 4.600.000đồng, bị cáo L được chia số tiền hơn 4.000.000đồng.

Như vậy: Các bị cáo T3 và L cùng Hoàng Văn H2, Nguyễn Đức T4 đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thanh T2 tổng số tiền là 65.500.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSTP ngày 24 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Trần Đình T3, Đặng Quốc L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc xét hỏi tại phiên toà, đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đình T3, Đặng Quốc L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 17; Đều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo T3 và L.

Áp dụng thêm điểm b, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Đình T3.

Xử phạt:

1, Bị cáo Trần Đình T3 từ 02 năm đến 02 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 22/02/2024.

2, Bị cáo Đặng Quốc L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 22/02/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự

Buộc các bị cáo Trần Đình T3Đặng Quốc L phải bồi thường cho bà Nguyễn Thanh T2 số tiền 65.500.000đồng (Sáu mươi lăm triệu, năm trăm nghìn đồng). Chia theo phần, mỗi bị cáo phải bồi thường cho bà T2 số tiền 32.750.000đồng (Ba mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Khấu trừ vào số tiền bị cáo 5.000.000đồng bị cáo Trần Đình T3 đã tự nguyện bồi thường cho bà T2 (Số tiền này đã chuyển vào tài khoản tạm giữ số 3949.0.1064848.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang mở tại Phòng G1). Bị cáo T3 còn phải bồi thường cho bà T2 số tiền 27.750.000đồng (Hai mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo chậm trả tiền thì các bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự có giá ngạch;

Tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Trần Đình T3Đặng Quốc L đều không trình bày lời bào chữa và đều nhất trí với luận tội của đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang. Các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà, các bị cáo Trần Đình T3Đặng Quốc L đều khai nhận ngày 27/5/2016, các bị cáo cùng Nguyễn Đức T4Hoàng Văn H2 đã cùng nhau đưa ra những thông tin gian dối đối với bà Nguyễn Thanh T2 về việc bà T2 trúng thưởng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH trị giá 60.000.000đồng và tiền mặt là 100.000.000đồng theo chương trình mở thưởng của V1 và yêu cầu bà T2 mua các thẻ nạp điện thoại để làm thủ tục nhận thưởng với mục đích để lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà T2, các bị cáo đã chiếm đoạt được tổng số tiền 65.500.000đồng của bà T2. Các bị cáo đều xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã tự nguyện và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố các bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy, có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Trần Đình T3Đặng Quốc L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Hiện các bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Song các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào 27/5/2016 (thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999 đang có hiệu lực). Tuy nhiên, căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 05/7/2017, trong đó hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội thì tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 không gây bất lợi cho các bị cáo nên áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, các bị cáo và Nguyễn Đức T4, Hoàng Văn H2 đã 05 lần đưa ra các thông tin gian dối đối với bà Nguyễn Thanh T2 để chiếm đoạt tiền của bà T2 (chuyển tiền để làm thủ tục nhận thưởng; làm thủ tục đăng ký xe SH; trả phí vận chuyển; ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam; hoàn tất hồ sơ chuyển quà); 05 lần bà T2 chuyển tiền thấp nhất là 4.000.000đồng, cao nhất là 22.000.000đồng. Do đó, các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho tất cả các bị cáo.

Bị cáo Trần Đình T3 đã nộp một phần tiền để bồi thường cho bị hại nên áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T3.

[3.3] Hình phạt:

Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Theo các bị cáo khai, Hoàng Văn H2 là người rủ các bị cáo và Nguyễn Đức T4 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; T4 là người trực tiếp thực hiện việc gọi điện thoại cho bà T2 nhưng hiện nay T4 không có mặt ở địa phương; H2 đã chết nên không đủ căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội có tổ chức đối với các bị cáo. Vì vậy chỉ xem xét hành vi các bị cáo phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trần Đình T3 cũng là người gọi điện thoại cho bà T2 để đưa ra các thông tin gian dối giả danh người sẽ chuyển phần thưởng cho bà T2 và yêu cầu bà T2 tiếp tục mua thẻ điện thoại V2 với số tiền 9.500.000đồng để làm thủ tục đăng ký xe SH và trả phí vận chuyển; bị cáo T3 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L là người ghi lại mã số thẻ, số seri vào điện thoại của L rồi chuyển sang cho Nguyễn Đức T4 qua tin nhắn để T4 mang đi bán cho chị Nguyễn Thị H1, sau khi thực hiện hành vi lừa đảo này, năm 2018 bị cáo Đặng Quốc L đã 01 lần bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo L cao hơn bị cáo T3. Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang đề nghị áp dụng đối với từng bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Nguyễn Thanh T2 yêu cầu các bị cáo bồi thường cho bà T2 số tiền bị chiếm đoạt là 65.500.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu, năm trăm nghìn đồng).

Xét yêu cầu của bà T2 là chính đáng nên chấp nhận.

Tại phiên toà, các bị cáo T3L tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà T2, các bị cáo không yêu cầu Nguyễn Đức T4 và người thừa kế của Hoàng Văn H2 cùng phải bồi thường cho bà T2. Do đó, các bị cáo T3L cùng phải chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 65.500.000đồng cho bà T2; chia theo phần, mỗi bị cáo phải bồi thường ½ là 32.750.000đồng. Bị cáo Trần Đình T3 đã nộp số tiền 5.000.000đồng để bồi thường cho bà T2 (số tiền này đã nộp vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang), do vậy bị cáo T3 còn phải bồi thường thiệt hại cho bà T2 số tiền 27.750.000đồng.

[5] Trong vụ án này, các bị cáo T3, L khai: Có Hoàng Văn H2 là người rủ các bị cáo T3, LT4 tham gia và cùng thực hiện hành vi lừa đảo tiền của bà T2, tuy nhiên ngày 19/12/2018 H2 đã chết trong vụ tai nạn giao thông nên không xem xét, xử lý.

Đối với Nguyễn Đức T4 theo các bị cáo Trần Đình T3, Đặng Quốc L khai T4 là người đầu tiên, trực tiếp gọi điện thoại cho bà Nguyễn Thanh T2 để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền và T4 là người trực tiếp bán các mã thẻ nạp tiền. Tuy nhiên, T4 đã xuất cảnh ra nước ngoài từ ngày 26/11/2023, không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với T4. Ngoài lời khai của các bị cáo Trần Đình T3, Đặng Quốc L thì không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về hành vi của T4. Do đó, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ kết luận đối với hành vi phạm tội của T4. Ngày 05/6/2024, Cơ quan điều tra tách hành vi của Nguyễn Đức T4 để tiếp tục điều tra, xác minh theo quy định pháp luật, khi có căn cứ xử lý sau.

Đối với chị Nguyễn Thị H1 là người mua các mã thẻ nạp tiền điện thoại, Cơ quan điều tra xác định chị H1 không biết những mã thẻ nạp tiền điện thoại mà mình mua do các đối tượng phạm tội mà có nên không xem xét, xử lý.

Đối với số thuê bao điện thoại 0969.974.xxx (các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo) được đăng ký bằng thông tin cá nhân là Nguyễn Anh T5, địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình điều tra đã xác minh tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xác định không có công dân nào có thông tin như trên.

Đối với số thuê bao điện thoại 01673828xxx (các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo) được đăng ký bằng thông tin cá nhân của anh Hoàng Xuân B, địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, anh Hoàng Xuân B khẳng định không được đăng ký, sử dụng số thuê bao điện thoại trên nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo:

[6.1] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Trần Đình T3Đặng Quốc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch.

[6.2] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo Trần Đình T3Đặng Quốc L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại (bà Nguyễn Thanh T2) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị H1) vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo T3L. Áp dụng thêm điểm b, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T3.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đình T3Đặng Quốc L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt:

- Bị cáo Đặng Quốc L 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 22/02/2024.

- Bị cáo Trần Đình T3 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 22/02/2024.

2. Căn cứ: Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự

Buộc bị cáo Đặng Quốc L phải bồi thường cho bà Nguyễn Thanh T2 số tiền 32.750.000đồng (Ba mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Buộc bị cáo Trần Đình T3 phải bồi thường cho bà Nguyễn Thanh T2 số tiền 32.750.000đồng (Ba mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Khấu trừ số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) bị cáo T3 đã nộp vào tài khoản tạm giữ số 3949.0.1064848.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang mở tại Phòng G1. Bị cáo T3 còn phải bồi thường số tiền 27.750.000đồng (Hai mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo chậm trả tiền thì các bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Căn cứ: Các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc các bị cáo Trần Đình T3, Đặng Quốc L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đặng Quốc L phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 1.637.500đồng (Một triệu sáu trăm hai tám nghìn năm trăm đồng).

Bị cáo Trần Đình T3 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 1.387.500 đồng (Một triệu ba trăm tám bảy nghìn năm trăm đồng).

Các bị cáo Trần Đình T3, Đặng Quốc L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hương G

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ;
  • - VKSND thành phố TQuang;
  • - VKSND tỉnh TQuang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TPTQuang;
  • - Cơ quan THAHS TPTQuang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TQuang;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger