Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-PT

Ngày: 21 – 11 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tân

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 111/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Minh P, do có Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 100/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị hại có liên quan đến kháng nghị: chị Trần Thị T, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp M, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Nguyễn Minh P không kháng cáo, không liên quan đến kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2016, bị cáo làm nhân viên thị trường của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ C. Thông qua mạng xã hội “Zalo”, bị cáo kết bạn với chị T và nảy sinh tình cảm nam nữ với nhau. Từ mối quan hệ đó, bị cáo đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối tự xưng là Trưởng phòng kinh doanh của Công ty Đ C, nói dối cần tiền để kinh doanh thuốc thuỷ sản hoặc vay tiền để cho người khác vay lại với lãi suất cao hơn nhằm kiếm lời để chị T tin tưởng cho vay tiền rồi chiếm đoạt.

Theo chị T, chị đã chuyển cho bị cáo vay 10 lần với tổng số tền 185.000.000đ. Từ đó, Cơ quan điều tra đã điều tra và Viện kiểm sát thành phố B đã truy tố bị cáo với số tiền chiếm đoạt của chị T là 185.000.000đ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Cấp sơ thẩm nhận định: không có căn cứ để xác định bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại 10 lần với tổng số tiền 185.000.000đ như Cáo trạng đã truy tố. Căn cứ lời khai của bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, thời gian và địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp các chứng cứ khác có lưu trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: với mục đích vụ lợi cá nhân, từ ngày 18 tháng 6 năm 2016 đến ngày 10 tháng 9 năm 2016 trên địa bàn thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo có hành vi 04 lần đưa ra thông tin gian dối để chị T tin tưởng là thật cho bị cáo vay tiền, sau khi nhận được tiền bị cáo lẫn trốn nhằm chiếm đoạt tài sản của chị T, tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị T là 85.000.000đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 100/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 03 (ba) năm tù.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 Bộ luật Dân sự.

Chị Trần Thị T được quyền đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nhận số tiền 20.000.000đ theo Biên lai thu tiền số 0000588 ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh P phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Thị T số tiền 65.000.000đ.

Không chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh P bồi thường số tiền 100.000.000đ và tiền lãi.

  1. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Nguyễn Minh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ và án phí dân sự sơ thẩm là 3.250.000đ.

Buộc chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000đ.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 19 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu có Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VKS-P7 với nội dung kháng nghị như sau: không buộc bị hại Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5.000.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Giữ nguyên Kháng nghị số 06/QĐ-VKS-P7 ngày 19 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, theo hướng không buộc bị hại Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra bị hại khai báo tài sản bị mất trộm là 185.000.000đ và yêu cầu bị cáo bồi thường; tại bản kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát kết luận tài sản bị hại bị xâm phạm và bị cáo đã lừa đảo là 185.000.000đ. Tuy nhiên, do Hội đồng xét xử sơ thẩm chỉ kết luận bị cáo lừa đảo chiếm đoạt số tiền bị hại là 85.000.000đ nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại về bồi thường thiệt hại; số tiền còn lại không chấp nhận là 100.000.000đ nên buộc bị hại phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên yêu cầu không được chấp nhận là 100.000.000đ x 5% = 5.000.0000đ.

[2] Theo Điều 15 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Từ đó tại điểm d khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định về nghĩa vụ chịu án phí trong vụ án hình sự như sau: “Trường hợp bị hại khai báo tài sản bị xâm hại và có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nhưng thực tế chứng minh tài sản bị cáo xâm phạm có giá trị thấp hơn hoặc cao hơn giá trị tài sản khai báo thì bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được tính đối với phần tài sản chứng minh được bị xâm phạm”.

[3] Như vậy trong vụ án này bị hại khai báo tài sản bị xâm hại và có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản là 185.000.000đ nhưng thực tế cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tài sản bị cáo xâm phạm có giá trị thấp hơn giá trị tài sản mà bị hại đã khai báo, cụ thể là chỉ chứng minh được tài sản bị cáo xâm phạm là 85.000.000đ. Cho nên bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được tính đối với phần tài sản chứng minh được bị xâm phạm là 85.000.000đ, mà không buộc bị hại phải chịu đối với phần không được chấp nhận.

[4] Do đó, bản án hình sự sơ thẩm ngoài việc buộc bị cáo phải chịu án phí đối với phần tài sản chứng minh được bị xâm phạm là 85.000.000đ, còn buộc bị hại phải chịu án phí khi khai báo và có yêu cầu bồi thường nhưng không chứng minh được với số tiền 100.000.000đ, là không đúng theo quy định về nghĩa vụ chịu án phí trong vụ án hình sự.

[5] Từ dó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu và đề nghị của Kiểm sát viên; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm theo hướng không buộc bị hại Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5.000.000đ.

[6] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

  1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị hại Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5.000.000đ.

  1. Căn cứ vào Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không có liên quan đến kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

  1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Gửi Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Gửi Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
  • - Gửi CQĐT, VKS, TA xét xử sơ thẩm;
  • - Giử nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có);
  • - Gửi người kháng cáo;
  • - Gửi người có liên quan đến kháng cáo hoặc kháng nghị (nếu có);
  • - Gửi Cơ quan THA dân sự có thẩm quyền (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 78/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng nghị
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger