Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/11/2024

V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

Ông Nguyễn Quốc Nông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 157/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXX-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Q, sinh năm 2001; CCCD số: [...]do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 27/12/2022.
  2. Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1997; CCCD số: [...] do Cục C về TTXH cấp 12/8/2021.
  4. Hộ chiếu số: C9984365 do Cục X cấp ngày 10/08/1997.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc.

Tại phiên tòa vắng mặt cả hai bên đương sự (chị Lê Thị Q và anh Nguyễn Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Q trình bày như sau:

- Về hôn nhân: ôi (Lê Thị Q) và anh Nguyễn Văn K kết hôn với nhau ngày 10/8/2020 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa theo đúng quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, chúng tôi sống cùng với bố mẹ chồng tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn với nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Hai bên gia đình đã cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng do hai bên bất đồng quan điểm sống. Sau nhiều lần hàn gắn tình cảm thì cuộc sống của chúng tôi vẫn không có nhiều tiến triển tốt. Tháng 11/2022 anh K đi nước ngoài (Hàn Quốc) làm việc, tôi và con đã về quê ngoại tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa ở. Kể từ cuối năm 2022, tôi và anh K mỗi người một nơi, không ai quan tâm tới ai, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc, vun đắp cho gia đình.

Đến nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng giữa tôi và anh Nguyễn Văn K không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không còn tồn tại nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.

- Về con chung:

Vợ chồng chúng tôi có 01 (một) con chung là:

Cháu Nguyễn Văn Quốc K1, sinh ngày 02/9/2021.

Nay ly hôn tôi đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con như sau: Do hiện nay cháu Nguyễn Văn Quốc K1 đang ở với tôi nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Quốc K1 sau khi ly hôn. Tôi không yêu cầu anh Nguyễn Văn K phải thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Tôi và anh Nguyễn Văn K không có tài sản chung. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về Công nợ. Tôi và anh Nguyễn Văn K không có nợ chung. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.17:14/-strong/-heart:>:o:-((:-h Xem trước khi gửi Thả Files vào đây để xem lại trước khi gửiAnh và chị Vương Thúy N xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/10/2015 tại UBND xã phường A1, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới vợ chồng sống ấm êm, hạnh phúc mặc dù lúc đó kinh tế có nhiều khó khăn. Để cải thiện kinh tế gia đình thì cô N có bàn với chồng đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản vào năm 2022. Từ khi sang Nhật Bản giữa hai vợ chồng tình cảm cứ lạnh nhạt dần rồi không liên lạc nữa, do hai bên có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, dẫn đến mâu thuẫn nên không có tiếng nói cung trong cuộc sống. Mặc dù hai bên gia đình đã đông viên nhiều nhưng chúng tôi không thể quay lại được.

Nay tôi xét thấy thời gian vợ chồng xa nhau cũng là ly thân nhau đã dài, cả hai bên đều bỏ mặc không có ý định vun đắp cho cuộc hôn nhân này nên tôi xét thấy mục địch hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn cô Vương Thúy N.

Cô N sang Nhật Bản theo diện xuất khẩu lao động, có hợp đồng nhưng tôi không biết địa chỉ cụ thể của cô N ở đâu, cô N cũng không cho tôi biết; vì nếu có liên lạc thì chỉ liên lạc thờin gian đầu qua mạng xã hội, nên tôi đề nghị Tòa án có công văn gửi Cục X để xác định việc xuất, nhập cảnh của cô Vương Thúy N.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu: Lê Hoàng M, sinh ngày 13/10/2016. Hiện nay cháu đang ở với tôi và khi ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi cháu M, không yêu cầu Tòa án cấp dưỡng.

- Về tài sản và công nợ chung, riêng: Anh N1 không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/8/2024 bà Lê Thúy H là mẹ đẻ của chị Vương Thúy N trình bày: :

- Chị Vương Thúy N là con đẻ của ông bà, sau khi tìm hiểu anh N1 thì hai bên gia đình cho cưới vào năm 2015 được UBND phường A1 cấp GCN đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng ở cùng với gia đình chồng ở phường A, thành phố T. Quá trình ở với gia đình chồng cũng bình yên hạnh phúc, mâu thuẫn diễn ra từ khi chị N đi xuất khẩu lao động bên Nhật Bản và đến nay thì chúng tôi được biết anh N1 đã làm đơn xin ly hôn chị N do TAND Tỉnh Thanh Hóa đang giải quyết. Chị N sang Nhật Bản làm ăn nhưng không cho ông bà tôi biết địa chỉ cụ thể, mà chỉ thường xuyên liên lạc với nhau qua mạng zalo. Nay anh N1 xin ly hôn chị N. chúng tôi đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật;

Vợ chồng có một con chung là cháu: Lê Hoàng M, sinh ngày 13/10/2016. Hiện nay cháu đang ở với bố, ly hôn anh N1 có nguyện vọng nuôi con thì chị N cũng đồng ý;

- Về tài sản và công nợ chung, riêng: Theo ông bà tôi được biết thì các con không có tài sản công nợ gì chung;

Tôi chấp nhận nhận các văn bản của Tòa án để thông tin cho chị N được biết nội dung làm việc của Tòa án;

* Tại văn bản số: 16888/ QLXNC-P3, về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 30/7/2024 của Cục X-Bộ C1 đã cung cấp: Chị Vương Thúy N, sinh ngày 19/7/1993 có lần xuất cảnh gần đây nhất là ngày 07/3/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền lợi ích hợp pháp.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Anh Lê Hoàng N1 : Về Hôn nhân: Anh Lê Hoàng N1 được ly hôn chị Vương Thúy N ; Về con chung: Giao cho anh N1 trực tiếp nuôi cháu Lê Hoàng M, sinh ngày 13/10/2016. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh N1 không yêu cầu; Về tài sản và công nợ chung riêng: Không yêu cầu nên miễn xét;

Về án phí: Anh Lê Hoàng N1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

(có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

chị Lê Thị Quỳnh A Lê Hoàng N1 có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đối với chị Vương Thúy N hiện nay đang cư trú tại Nhật Bản. Vì vậy, TAND Tỉnh Thanh Hóa thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Vắng mặt tất cả các bên đương sự ( chị Lê Thị Quỳnh A Lê Hoàng N1 có đơn xin xét xử vắng mặt) nên HĐXX căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả các bên đương sự.

[2] Về nội dung:

Về hôn nhân: chị Lê Thị Quỳnh A Lê Hoàng N1 và chị Vương Thúy N có thời gian tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình đồng ý nên đã tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương, đăng ký kết hôn được UBND phường cấp năm 2015, như vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.

HĐXX thấy rằng, thời gian đầu sau khi cưới hai vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên để khắc phục kinh tế khó khăn của gia đình thì chị N đã đi xuất khẩu lao động nhưng "xa mặt cách lòng” hai bên đã không vượt qua được trở ngại về không gian, thời gian và khoảng cách địa lý, dẫn đến tình cảm phai nhạt, mâu thuẫn từ chỗ bé đã xé ra to, điều mà các vợ chồng trẻ nếu ở gần nhau sẽ có cơ hội cải thiện được. Tuy nhiên nay anh N1 xét thấy không muốn tiếp tục chung sống với vợ trong tình trạng này nên làm đơn ly hôn.

HĐXX có cơ sở nhận định, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết để anh N1 được ly hôn chị N là đúng quy định.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Hoàng M, sinh ngày 13/10/2016. Từ bé cháu đã ở với bố mẹ, mẹ đi nước ngoài cháu ở với bố cho đến nay. Anh N1 có nguyện vọng nuôi con sau ly hôn, chị N thì không có mặt tại Việt Nam nên giao con cho anh N1 nuôi là phù hợp.

Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh N1 không yêu cầu;

Về tài sản và công nợ: Các bên không yêu cầu giải quyết;

Về án phí: anh N1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Quỳnh A Lê Hoàng N1

  • - Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Quỳnh A Lê Hoàng N1 được ly hôn chị Vương Thúy N.
  • - Về con chung: Công nhận vợ chồng có 01 con chung cháu là Lê Hoàng M, sinh ngày 13/10/2016. Giao cháu M cho anh N1 được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh N1 không yêu cầu;
  • Chị N có quyền qua lại chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở, nhưng chị N không được lạm dụng quyền thăm nom con để làm ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của anh N1;
  • - Về tài sản, công nợ chung, riêng: Tòa án không xem xét.
  • - Về án phí: chị Lê Thị Quỳnh A Lê Hoàng N1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng anh đã nộp theo biên lai thu số 0000471 ngày 06/8/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Anh N1 đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: chị Lê Thị Quỳnh A Lê Hoàng N1 và chị Vương Thúy N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND p An Hoạch, UBND p An Hưng; UBND p
  • Lam Sơn- TP. Thanh Hóa.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS vụ án; Lưu Tòa GD&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/HNGĐ-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 178/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Q - Nguyễn Văn K "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger