Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUYÊN HẢI

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 78/2024/DS-ST

Ngày: 21-11-2024

“V/v tranh chấp thừa kế

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phi Long

Ông Trần Văn Nước

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Kiên Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 123/2022/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1957; (có mặt)

Địa chỉ: Khóm C, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1980; (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1961; (xin xét xử vắng mặt)
  2. Anh Đào Văn H1, sinh năm 1974; (xin xét xử vắng mặt)
  3. Cùng địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

  4. Anh Lâm Văn P, sinh năm 1968; (xin xét xử vắng mặt)
  5. Anh Lâm Văn C, sinh năm 1981; (xin xét xử vắng mặt)
  6. Anh Lâm Văn Q, sinh năm 1982; (xin xét xử vắng mặt)
  7. Cùng địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

  8. Anh Dương Văn V, sinh năm 1980; (xin xét xử vắng mặt)
  9. Địa chỉ: Khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 21/9/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Mẹ ruột của bà là cụ Trần Thị T và anh ruột là Trần Văn N, trước đó mẹ và anh Nuôi sống chung một nhà, có cùng hộ khẩu và có tài sản là 04 thửa đất gồm thửa số 453, 457, 458 và 459, cùng tờ bản đồ số 7, trước đây thuộc ấp P, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh, nay là khóm P, Phường B, thị xã D. Nguồn gốc 04 thửa đất này là đất hương quả của ông bà để lại, do cụ T lớn tuổi nên ông Trần Văn N kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 27/01/1996 cho hộ ông Trần Văn N. Năm 2000, cụ T chết thì các thửa đất nêu trên theo quy định của pháp luật chia ra làm hai phần, một phần là của ông N, phần còn lại là của cụ T. Đối với phần của cụ T thì bà H phải được hưởng một kỷ phần và một kỷ phần còn lại do anh N hưởng. Tuy nhiên, do là đất hương quả nên bà H chưa yêu cầu chia thừa kế, do đó ông N tạm sử dụng hết 04 thửa đất nêu trên. Đến năm 2009 ông N chết và không có vợ và con. Do đó, 04 thửa đất nêu trên phải thuộc quyền thừa kế của bà H, nhưng không biết lý do gì mà chị Nguyễn Thị M đi làm thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng 04 thửa đất nêu trên và được cấp giấy chứng nhận ngày 16/01/2011. Sau đó, bà H có yêu cầu chị M trả lại cho bà 04 thửa đất nhưng chị M không trả.

Năm 2016, chị M thực hiện thủ tục cấp đổi 04 thửa đất số 453, 457, 458 và 459 thành 04 thửa gồm: Thửa 20, diện tích 2.013,6m²; thửa 22, diện tích 3.518,7m²; thửa 151, diện tích 881m² và thửa 152, diện tích 819,7m², cùng tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Bà nhận thấy 04 thửa đất này của ông N, do ông N chết không có vợ, không có con ruột và chị M không phải là con nuôi của ông N. Do đó, 04 thửa đất này thuộc quyền thừa kế của bà. Tuy nhiên, hiện nay chị M đã chiếm hữu, sử dụng 04 thửa đất này, nay bà H khởi kiện yêu cầu đòi lại di sản thừa kế là các thửa đất số 20, 22, 151, 152 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho chị Nguyễn Thị M đối với 04 thửa đất này.

Tại phiên tòa bà H có ý kiến là nếu như không đòi lại được 04 thửa đất thì bà cũng thống nhất chia thừa kế theo pháp luật, bà muốn được nhận phần đất gần với khu mộ của ông bà để sau này có người thân trong dòng họ chết thì đem đến đây để chôn cất.

- Tại đơn khởi kiện ngày 05/4/2024, anh Lâm Văn P, anh Lâm Văn C và anh Lâm Văn Q cùng có yêu cầu độc lập như sau:

Bà ngoại chúng tôi là Trần Thị T có 03 người con là mẹ chúng tôi tên Trần Thị Q1 (chết năm 1994), cậu Trần Văn N và dì Trần Thị H. Khi bà ngoại chúng tôi còn sống có 01 miếng đất gồm nhiều thửa liền kề nhau gồm thửa số 20, 22, 151 và 152, tờ bản đồ số 42, đất ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Năm 2000 thì bà ngoại chúng tôi chết nên đã để lại toàn bộ 04 thửa đất cho cậu Trần Văn N, đến năm 2009 thì cậu Trần Văn N chết nên đã để lại thừa kế 04 thửa đất cho con gái là Nguyễn Thị M, hiện nay Nguyễn Thị M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay chúng tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Ba anh em chúng tôi yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 04 thửa đất số 20, 22, 151 và 152, tờ bản đồ số 42, đất ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Hiện nay chúng tôi đều sinh sống ở xã N, huyện T, không có nhu cầu sử dụng đất ở Phường B, thị xã D nên chúng tôi yêu cầu được nhận giá trị đất, đồng thời em Lâm Văn C và em Lâm Văn Q xin tự nguyện nhường lại suất thừa kế cho anh Lâm Văn P nếu như yêu cầu của chúng tôi được chấp nhận.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/01/2024 chị Nguyễn Thị M có ý kiến: Chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H với lý do là 04 thửa đất số 20, 22, 151 và 152, tờ bản đồ số 42, đất ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh là của chị nhận thừa kế lại từ cha ruột là ông Trần Văn N. Về nguồn gốc đất, chị M cho rằng các thửa đất này trước đây là của ông chú 3 là em ruột của ông nội chị, sau đó ông chú 3 mới cho lại cha chị là ông Trần Văn N canh tác. Ông bà nội của chị có nhiều người con nhưng một số người đã chết từ nhỏ, còn lại thì có cô Hai Q2 ở huyện T, cô Q2 đã chết hiện có 03 người con cũng ở bên huyện T; người thứ tư là cha của chị là ông Trần Văn N, người thứ sáu là cô Trần Thị H, khi cha của chị chết thì không để lại di chúc. Hiện nay chị M đang cư trú ở xã N, huyện D nên đã cho người khác thuê lại 04 thửa đất này.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/10/2024, bà Nguyễn Thị K có ý kiến: Bà là vợ của ông Trần Văn N, hai người kết hôn vào khoảng năm 1978-1979 nhưng không có đăng ký kết hôn, sau khi cưới thì bà về làm dâu và ở chung với ông N và mẹ chồng là cụ Trần Thị T, lúc này cha chồng là ông Trần Văn M1 đã chết từ lâu và được chôn cất ở trong xã N. Bà với ông N chỉ có 01 người con là chị Nguyễn Thị M. Về nguồn gốc các thửa đất đang tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị M với bà Trần Thị H thì bà có nghe nói là một phần do chú ba là ông Trần Văn L (là chú ruột của ông N) cho ông N trước khi vợ chồng bà đám cưới, sau khi cưới thì vợ chồng bà có mua và khai phá thêm phần đất ở giáp kinh. Nay theo yêu cầu khởi kiện của bà H và yêu cầu độc lập của 03 người con của bà Trần Thị Q1 thì bà K không đồng ý vì đây là đất của ông Trần Văn N, ông N chết thì chị M được nhận thừa kế là điều đương nhiên, bà cũng thống nhất để lại các thửa đất này cho chị M.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/4/2024, anh Dương Văn V trình bày: Anh đã thuê đất của chị Nguyễn Thị M khoảng 10 năm nay, với giá thuê là 10 triệu đồng/năm. Hiện nay anh vẫn còn thuê đến khi nào chị M lấy lại đất thì anh sẽ trả, trong vụ án này anh cũng không có yêu cầu gì.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án:

Qua xem xét tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định tại thời điểm nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với 04 thửa đất số 453, 457, 458 và 459 cho hộ ông Trần Văn N thì chỉ có 02 người có quyền sử dụng đất là ông Trần Văn N và cụ Trần Thị T. Bà H cho rằng chị M không phải là con ruột của ông Trần Văn N nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho vấn đề này, bà H cũng không yêu cầu giám định quan hệ huyết thống. Trong khi lời khai của bà Nguyễn Thị K, anh Lâm Văn P và bà Trần Thị Ử đều khẳng định là bà Nguyễn Thị K với ông Trần Văn N chỉ có một người con duy nhất là chị Nguyễn Thị M. Tại phiên tòa bà H cũng thừa nhận là ông N có cưới bà K về làm vợ và hai người đã ở với nhau một thời gian sau đó bà K mới về xã N sinh sống. Do đó, bà H cho rằng bà là người thừa kế duy nhất nên kiện đòi lại di sản 04 thửa đất là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong vụ án này anh Lâm Văn P, anh Lâm Văn C và anh Lâm Văn Q có yêu cầu độc lập là yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 04 thửa đất, cũng như tại phiên tòa bà H cũng có ý kiến là nếu như kiện đòi lại 04 thửa đất không được thì bà cũng đồng ý chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị: Vì sau khi ông N chết thì chị M đã đứng ra trả nợ ngân hàng cho ông N và có công giữ gìn, quản lý các thửa đất trên, do đó khi chia thừa kế cần dành cho chị M một phần đất bằng với một suất thừa kế của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T. Nên phần di sản 3.600m² của cụ T để lại sẽ chia thành 04 suất bằng nhau, mỗi suất là 900m², trong đó ông N được chia 01 suất, bà H được chia 01 suất và 03 người con của bà Q1 là anh P, anh Q và anh C được chia 01 suất, còn 01 suất dành cho chị M. Đối với suất thừa kế của ông N, do ông N chết không để lại di chúc nên phần di sản của ông N được chia cho bà K và chị M mỗi người được diện tích là 450m². Bà K tự nguyện nhường lại toàn bộ phần di sản được hưởng cho chị M nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với suất thừa kế thế vị của 03 người con của bà Trần Thị Q1 thì anh Lâm Văn C và anh Lâm Văn Q cũng tự nguyện nhường lại cho anh Lâm Văn P nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận, giao cho anh P 900m² đất.

Về án phí và chi phí tố tụng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thị M và tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều có đề nghị xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án vẫn tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện đối tượng tranh chấp hiện nay là các thửa đất số 20, 22, 151 và 152, cùng tờ bản đồ số 42, đất ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, do chị Nguyễn Thị M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng trên cơ sở nhận thừa kế từ ông Trần Văn N. Bốn thửa đất này được chuyển đổi từ các thửa đất số 453, 457, 458 và 459, cùng tờ bản đồ số 7, trước đây thuộc ấp P, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

[3] Về nguồn gốc, các thửa đất số 453, 457, 458 và 459 do ông Trần Văn N kê khai đăng ký tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 25/9/1995. Theo tư liệu năm 1983 thì cả 04 thửa đất này cũng ghi tên ông Trần Văn N trong Sổ mục kê đất năm 1983. Đến năm 1996 Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 04 thửa đất này cho hộ ông Trần Văn N. Qua tra cứu thông tin thành viên hộ gia đình của hộ ông Trần Văn N, vào thời điểm ngày 27/01/1996 (thời điểm cấp giấy chứng nhận) thì Công an không quản lý tàng thư hộ khẩu của hộ ông Trần Văn N, nhưng thời điểm lập tàng thư hồ sơ hộ khẩu ngày 15/01/1997 thì hộ ông Trần Văn N gồm có 02 người là ông Trần Văn N và mẹ ruột là cụ Trần Thị T. Điều này là phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị K là tại thời điểm bà K cưới và về sống với ông Trần Văn N thì lúc này cũng chỉ có ông N và cụ T đang ở trên các thửa đất này. Tại phiên tòa bà Trần Thị H khai cha của bà là ông Trần Văn M1 chết trước năm 1975. Như vậy có căn cứ xác định tại thời điểm nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với 04 thửa đất số 453, 457, 458 và 459 cho hộ ông Trần Văn N thì chỉ có 02 người có quyền sử dụng đất là ông Trần Văn N và cụ Trần Thị T.

[4] Bà H khởi kiện cho rằng 04 thửa đất này là của cha mẹ, sau khi cha mẹ và ông N chết thì còn bà là người thừa kế duy nhất nên kiện đòi lại 04 thửa đất. Hội đồng xét xử xét thấy, bà H cho rằng chị M không phải là con ruột của ông Trần Văn N nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho vấn đề này, bà H cũng không yêu cầu giám định quan hệ huyết thống. Trong khi lời khai của bà Nguyễn Thị K, anh Lâm Văn P và bà Trần Thị Ử đều khẳng định là bà Nguyễn Thị K với ông Trần Văn N chỉ có một người con duy nhất là chị Nguyễn Thị M. Tại phiên tòa bà H cũng thừa nhận là ông N có cưới bà K về làm vợ và hai người đã ở với nhau một thời gian sau đó bà K mới về xã N sinh sống. Do đó, bà H cho rằng bà là người thừa kế duy nhất nên kiện đòi lại di sản 04 thửa đất là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong vụ án này có đương sự là anh Lâm Văn P, anh Lâm Văn C và anh Lâm Văn Q có yêu cầu độc lập là yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 04 thửa đất, cũng như tại phiên tòa bà H cũng có ý kiến là nếu như kiện đòi lại 04 thửa đất không được thì bà cũng đồng ý để Hội đồng xét xử chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

[5] Về di sản thừa kế, xét thấy: Tổng diện tích đất của các thửa số 20, 22, 151 và 152, tờ bản đồ số 42, ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh là 7.233m², tuy nhiên trên thực địa có khu mộ gồm 07 ngôi mộ, qua xác minh những người được chôn cất ở đây đều là người thân, ông bà của bà H và chị M, diện tích thực tế của khu mộ là 32,7m², phần đất có khu mộ này không xem xét là di sản thừa kế, do đó sau khi trừ ra thì 04 thửa đất có diện tích còn lại là 7.200m², cụ T và ông N mỗi người được quyền sử dụng là 3.600m². Vì cụ T và ông N chết không để lại di chúc nên di sản được chia thừa kế theo pháp luật, do bà Nguyễn Thị K chung sống như vợ chồng với ông Trần Văn N trước năm 1987 nên được xem là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Phần đất của ông N sau khi chết được chia cho hàng thừa kế thứ nhất là vợ là bà Nguyễn Thị K và con là chị Nguyễn Thị M, trên thực tế chị M đã làm thủ tục nhận di sản và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại thời điểm chị M nhận thừa kế thì chị M và bà K cũng không có tranh chấp gì, hiện nay bà K cũng không có yêu cầu trong vụ án và đồng ý nhường lại suất thừa kế được hưởng từ ông N cho chị M, nên phần di sản là diện tích đất 3.600m² của ông N không xem xét chia trong vụ án này, mà chỉ chia phần di sản 3.600m² của cụ T.

[6] Hàng thừa kế thứ nhất của cụ T gồm có bà Trần Thị Q1, ông Trần Văn N và bà Trần Thị H; do bà Q1 chết trước cụ T nên 03 người con của bà Q1 là anh Lâm Văn P, Lâm Văn C và Lâm Văn Q được hưởng một suất thừa kế thế vị của bà Q1. Xét thấy, sau khi ông N chết thì chị M đã đứng ra trả nợ ngân hàng cho ông N và có công giữ gìn, quản lý các thửa đất này, do đó xét thấy cần dành cho chị M một phần đất bằng với một suất thừa kế của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T.

[7] Việc phân chia thừa kế cụ thể như sau: Phần di sản 3.600m² của cụ T chia thành 04 suất bằng nhau, mỗi suất là 900m², trong đó ông N được chia 01 suất, bà H được chia 01 suất và 03 người con của bà Q1 là anh P, anh Q và anh C được chia 01 suất, còn 01 suất dành cho chị M như đã nhận định ở đoạn [6].

[8] Đối với suất thừa kế của ông N, do ông N chết không để lại di chúc nên phần di sản của ông N được chia cho bà K và chị M mỗi người được diện tích là 450m². Bà K tự nguyện nhường lại toàn bộ phần di sản được hưởng cho chị M nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Đối với suất thừa kế thế vị của 03 người con của bà Trần Thị Q1 thì anh Lâm Văn C và anh Lâm Văn Q cũng tự nguyện nhường lại cho anh Lâm Văn P nên Hội đồng xét xử ghi nhận, giao cho anh P 900m² đất.

[10] Do trong vụ án này các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc phân chia di sản, cũng không có sự thỏa thuận về người nhận hiện vật hoặc giao giá trị đất, hơn nữa di sản trong vụ án này có thể được chia bằng hiện vật, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của anh P, anh Q và anh C về việc xin nhận giá trị đất.

[11] Trên thực tế thửa 152 là phần D có diện tích 819,7m², còn phần C3 thuộc thửa số 20 giáp với khu mộ có diện tích 836,9m², hai phần đất này Hội đồng xét xử quyết định chia cho bà H và anh P, còn phần diện tích đất chênh lệch ít hơn so với diện tích 900m² được hưởng thừa kế thì buộc chị M phải thanh toán lại giá trị tương ứng theo giá trị đất đã được định giá là 400.000 đồng/m², theo đó:

[12] Giao cho anh Lâm Văn P thửa 152, diện tích 819,7m², phần chênh lệch là 900-819,7=80,3m², số tiền chị Nguyễn Thị M phải thanh toán cho anh P là 80,3m² x 400.000 đồng = 32.120.000 đồng.

[13] Giao cho bà Trần Thị H phần C3 thuộc thửa số 20, diện tích 836,9m², phần chênh lệch là 900-836,9=63,1m², số tiền chị Nguyễn Thị M phải thanh toán cho bà H là 63,1m² x 400.000 đồng = 25.240.000 đồng.

[14] Đối với thỏa thuận cho thuê đất giữa chị Nguyễn Thị M với anh Dương Văn V, do trong vụ án này anh V không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Do trong diện tích đất anh V thuê được xem xét chia cho bà H và anh P một phần, nên anh V có trách nhiệm cùng với chị M giao đất cho bà H và anh P khi bản án có hiệu lực pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của người thuê và người cho thuê sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[15] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí tố tụng trong vụ án này là 9.398.000 đồng. Số tiền này các đương sự phải chịu theo tỉ lệ diện tích đất được nhận, bà H và anh P mỗi người được nhận 1/4 nên mỗi người phải chịu chi phí tố tụng là 2.349.500 đồng, chị M được nhận 2/4 nên phải chịu chi phí tố tụng là 4.699.000 đồng. Do bà H đã nộp tạm ứng trước nên chị M và anh P phải có nghĩa vụ trả lại tiền chi phí tố tụng cho bà H.

[16] Về án phí sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên giá trị di sản thừa kế được chia, cụ thể như sau:

- Bà Trần Thị H và bà Nguyễn Thị K là người cao tuổi nên được miễn án phí sơ thẩm;

- Chị Nguyễn Thị M được chia 450m², giá trị đất là 450m² x 400.000 đồng = 180.000.000 đồng, nên án phí chị M phải chịu là 9.000.000 đồng.

Anh Lâm Văn P, Lâm Văn C và Lâm Văn Q mỗi người được chia 300m², giá trị đất là 300m² x 400.000 đồng = 120.000.000 đồng, nên mỗi người phải chịu án phí là 6.000.000 đồng.

[17] Xét quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 649, 652 Bộ luật Dân sự;
  • Điều 203 của Luật Đất đai năm 2024;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc đòi lại 04 thửa đất số 20, 22, 151 và 152, cùng tờ bản đồ số 42, đất ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Lâm Văn P, anh Lâm Văn Q và anh Lâm Văn C về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với 04 thửa đất số 20, 22, 151 và 152, cùng tờ bản đồ số 42, đất ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, việc chia di sản cụ thể như sau:

    2.1. Chia cho anh Lâm Văn P, anh Lâm Văn C và anh Lâm Văn Q mỗi người 300m² đất. Ghi nhận sự tự nguyện của anh C và anh Q nhường lại phần di sản thừa kế của mình cho anh P. Do đó, giao cho anh Lâm Văn P phần đất có diện tích 819,7m² thuộc thửa đất số 152, tờ bản đồ số 42, đất ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

    Đất có tứ cận, kích thước sau:

    • - Hướng Đông giáp với thửa số 20, dài 30,69 mét;
    • - Hướng Tây giáp với thửa số 19, dài 14,49 mét; giáp với thửa số 167, dài 14,91 mét;
    • - Hướng Nam giáp với thửa số 19, dài 22,11 mét; giáp với thửa số 23, dài 7,88 mét;
    • - Hướng Bắc giáp với thửa số 16, dài 24,6 mét;

    (Là phần D trên sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 1760/CN TXDH ngày 29/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D)

    Chị Nguyễn Thị M phải thanh toán cho anh Lâm Văn P giá trị của diện tích đất còn thiếu là 80,3m², tương ứng với số tiền là 32.120.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Anh Lâm Văn P được quyền sở hữu toàn bộ cây cối trên diện tích đất được giao và có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    2.2. Chia cho bà Trần Thị H phần đất có diện tích 836,9m² thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 42, đất ở khóm P, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

    Đất có tứ cận, kích thước sau:

    • - Hướng Đông giáp với phần còn lại của thửa đất số 20, dài 27,52 mét;
    • - Hướng Tây giáp với thửa đất số 152, dài 30,69 mét;
    • - Hướng Nam giáp với thửa đất số 23, dài 25,26 mét;
    • - Hướng Bắc giáp với thửa đất số 16, dài 28,35 mét;

    (Là phần C3 trên sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 1505/CN TXDH ngày 04/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D)

    Chị Nguyễn Thị M phải thanh toán cho bà Trần Thị H giá trị của diện tích đất còn thiếu là 63,1m², tương ứng với số tiền là 25.240.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Bà Trần Thị H được quyền sở hữu toàn bộ cây cối trên diện tích đất được giao và có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về chi phí tố tụng:
    • - Chị Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị H số tiền 4.699.000 đồng.
    • - Anh Lâm Văn P có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị H số tiền 2.349.500 đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị H và bà Nguyễn Thị K;
    • - Chị Nguyễn Thị M phải chịu 9.000.000 đồng;
    • - Anh Lâm Văn P, anh Lâm Văn C và anh Lâm Văn Q mỗi người phải chịu 6.000.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002290 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải, do đó mỗi người phải nộp tiếp án phí là 5.900.000 đồng.
  5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Nước Phạm Phi Long Nguyễn Hữu Tài

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Viện KSND Tx. Duyên Hải;
  • - Chi cục THADS Tx. Duyên Hải;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 78/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia thừa kề theo pháp luật
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger