TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/DS-ST Ngày 18 – 9 – 2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Bé Ba
- Ông Lê Văn Qui
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Tình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2023/DSST, ngày 13 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp về quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-DS, ngày 27/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1951 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn:
- Ông Trần Văn K, sinh năm: 1953 (có mặt).
- Ông Đỗ Văn N, sinh năm: 1974 (có mặt).
- Bà Bùi Thị N1, sinh năm: 1956.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N1, ông Huỳnh Văn Chí L, sinh năm: 1977 (theo giấy ủy quyền ngày 20/11/2023, có mặt).
- Ông Lê Văn M, sinh năm: 1979 (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Phan Thị T, sinh năm: 1979 (vắng mặt).
- Bà Lê Thị Tuyết S, sinh năm: 1970 (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của tôi, đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000487 ngày 22/8/1995, gồm 03 thửa đất 208, 209 và 218. Tuy nhiên, vào năm 1997, tôi đã chuyển nhượng cho ông Trần Văn K toàn bộ thửa 218 và đã sang tên cho ông K xong. Tôi còn lại 02 thửa 208, 209. Đến năm 2011, tôi chuyển nhượng cho ông Lê Văn M và bà Phạm Thị T1 diện tích 1.899 m² tại thửa 208, tôi cũng chuyển quyền sang tên cho ông M, bà T1 xong. Còn lại thửa 209 tôi tiếp tục chuyển nhượng cho ông Lê Văn M và bà Phạm Thị T1 diện tích 253,4m² tôi cũng chuyển quyền sang tên cho ông M, bà T1 xong. Đến năm 2021, thì tôi đi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích còn lại của thửa 208 là 578m², thửa 209 còn lại 46,6 m².
Trong quá trình sử dụng đất, ông Lê Văn M đã lấn chiếm sử dụng hết thửa 209 của tôi, theo giấy chứng nhận tôi được cấp là 46,6 m², nhưng khi đo đạc thực tế thì còn 37,2 m² và phần đất này ông M đã chuyển nhượng cho ông N tôi không hay biết, hiện nay ông N đang quản lý sử dụng phần đất trên. Nên tôi yêu cầu ông M và ông N cùng có nghĩa vụ trả lại phần đất diện tích 37,2 m² tại thửa 209 cho tôi. Đối với phần đất tranh chấp với ông K, bà N1 và ông N tại vị trí (V), (VII), (VII) theo lược đồ tôi khẳng định nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi tại thửa 208. Nay tôi khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả cho tôi phần đất lấn chiếm theo diện tích đo đạc thực tế, cụ thể buộc ông Đỗ Văn N trả phần đất tại vị trí V là 60,2 m²; buộc ông Trần Văn K trả diện tích 38,1 m² tại vị trí (VII); buộc bà Bùi Thị N1 trả diện tích 150,2 m² tại vị trí (VI); buộc ông Lê Văn M và ông Đỗ Văn N trả phần đất diện tích 37,2 m² tại vị trí số (III).
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Đỗ Văn N trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây tôi được biết là của ông Lê Văn M chuyển nhượng cho ông Trần Văn H1, diện tích ông M chuyển nhượng cho ông H1 là 1.899 m². Đến năm 2019, ông H1 chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất diện tích 1.899 m², tại thửa 2472, tờ bản đồ số 9 cho tôi, ông Trần Văn H1 đã làm thủ tục chuyển nhượng sang tên cho tôi xong và tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 23/10/2019. Khi chuyển nhượng thì phần đất đã có trụ đá giáp ranh tứ cận, các hộ tứ cận đều thống nhất không ai tranh chấp, khi làm thủ tục chuyển nhượng thì không có đo đạc thực tế. Từ khi chuyển nhượng đến nay tôi sử dụng ổn định, không ai tranh chấp. Trong khi đó bà H ở kế bên phần đất, biết việc tôi chuyển nhượng đất và sử dụng đất nhưng cũng không có ý kiến gì. Nay bà H yêu cầu tôi trả phần đất lấn chiếm tôi không đồng ý, vì phần đất tôi sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Tôi sử dụng đúng diện tích được cấp giấy, không có lấn chiếm đất bà H. Đối với cây trồng trên đất gồm dừa, cau ăn trái, chuối và cây cách nằm trên phần đất của tôi, tôi yêu cầu ổn định sử dụng. Đối với cây bình bát là do có sẵn khi tôi chuyển nhượng đất của ông H1.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn K trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp với bà H là do tôi đổi đất với bà Lê Thị G vào năm 1977, tôi sử dụng đến năm 1994, được cơ quan chuyên môn tiến hành đo đạc thực tế và cặm trụ giáp ranh. Đến ngày 22/8/1995, tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm cấp giấy phần đất của tôi không có giáp với bà H mà giáp với bà N1. Tôi sử dụng ổn định từ năm 1977 đến nay, không ai tranh chấp, bà H cũng không có canh tác sử dụng. Nay bà H cho rằng tôi lấn chiếm đất bà H và yêu cầu tôi trả đất tôi không đồng ý, yêu cầu Tòa án căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tôi được cấp để tôi được sử dụng ổn định phần đất trên. Đối với công trình trên đất có 01 phần nhà vệ sinh là của tôi xây dựng, tôi yêu cầu được ổn định sử dụng.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn Bùi Thị N1, có đại diện theo ủy quyền ông Huỳnh Văn Chí L trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là của bà Trần Thị D (đã chết) cho mẹ tôi là bà Bùi Thị N1. Vào năm 1992, hiện trạng đất lúc bà D cho là con mương, để làm lối đi ra lộ, gia đình tôi thuê sáng cuốc đất để bồi đắp con mương thành lối đi chung. Phía sau phần đất làm lối đi vào, chỉ có nhà bà N1 và nhà ông Hoàng N2, sau này ông Hoàng N2 chuyển nhượng lại cho bà S sử dụng cho đến nay. Tôi khẳng định phần đất bà H yêu cầu bà N1 trả là phần đất thuộc lối đi chung của bà N1 và bà S không phải phần đất bà H đứng tên. Vì vậy nay bà H yêu cầu bà N1 trả lại diện tích 150,2 m² tôi không đồng ý, vì phần đất này không phải đất của bà H. Đối với công trình trên đất có 01 lối đi xây dựng láng xi măng là do bà N1 xây dựng. Đối với cây bình bát trên đất là do tự mọc nên không yêu cầu.
Quá trình tố tụng tại Toà án bị đơn ông Lê Văn M trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do tôi chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị H vào ngày 13/4/1998, tôi đã giao đủ vàng và nhận đất xong. Đến năm 2011 vợ chồng tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 2472 diện tích 1899 m², chúng tôi sử dụng một thời gian thì chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn H2, sau đó ông H2 chuyển nhượng lại cho ông Đỗ Văn N. Trong suốt quá trình tôi nhận đất sử dụng, sau đó chuyển nhượng lại cho ông H2, ông H2 chuyển nhượng lại cho ông N thì bà H cũng không có ý kiến hay ngăn cản gì. Nên bà H yêu cầu tôi và ông N cùng có trách nhiệm trả lại phần đất diện tích 37,2 m² tôi không đồng ý.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phan Thị T trình bày:
Tôi là vợ của ông Lê Văn M, tôi thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông M và tôi yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt tôi trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị Tuyết S trình bày:
Đối với phần đất bà Nguyễn Thị H yêu cầu bà N1 trả lại diện tích 150,2 m² đây là lối đi chung từ trước đến nay của gia đình bà N1 và tôi. Nguồn gốc lối đi là do ông N2 và bà N1 bồi đắp, sau khi ông N2 chuyển nhượng đất cho tôi thì tôi và bà N1 tiếp tục bồi đắp lối đi như hiện trạng thẩm định. Từ trước đến nay bà H không có sử dụng phần đất này. Nay bà H cho rằng phần lối đi nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H và yêu cầu bà N1 trả lại là không đúng. Tôi yêu cầu được ổn định sử dụng vì đây là lối đi duy nhất của gia đình bà N1 và tôi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Về án phí và chi phí xem xét thẩm định nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện bị đơn Trần Văn K, Đỗ Văn N, Bùi Thị N1, Lê Văn M yêu cầu Toà án giải quyết buộc các bị đơn trả phần đất lấn chiếm nên xác địnhquan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp đất đai. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phan Thị T vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Phan Thị T.
[3] Về nội dụng giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các bị đơn trả cho nguyên đơn phần đất lấn chiếm như sau: Buộc ông Đỗ Văn N trả phần đất tại vị trí (V) là 60,2 m²; buộc ông Trần Văn K trả diện tích 38,1 m² tại vị trí (VII); buộc bà Bùi Thị N1 trả diện tích 150,2 m² tại vị trí (VI); buộc ông Lê Văn M và ông Đỗ Văn N trả phần đất diện tích 37,2 m² tại vị trí số (III) thuộc mảnh trích đo địa chính số 58/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty cổ phần Đ.
[4] Nguyên đơn xác định về nguồn gốc phần đất tranh chấp là của bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00487 vào ngày 22/8/1995 gồm 03 thửa đất 208, diện tích 2477 m²; thửa 209, diện tích 300m² và thửa 218, diện tích 6.050 m². Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H thể hiện: Năm 1997, bà H đã chuyển nhượng cho ông Trần Văn K toàn bộ thửa 218, ông K đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2011, bà H tiếp tục chuyển nhượng cho ông Lê Văn M và bà Phạm Thị T1 diện tích 1.899 m² tại thửa 208, ông M, bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn lại thửa 209, bà H tiếp tục chuyển nhượng cho ông Lê Văn M và bà Phạm Thị T1 diện tích 253,4 m², bà H cũng đã chuyển quyền sang tên cho ông M, bà T1 xong. Đến năm 2021, bà H được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thể hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03713 ngày 02/11/2021, do Sở Tài nguyên môi trường cấp cho bà Nguyễn Thị H tại thửa đất 208, diện tích là 578m², loại đất trồng cây lâu năm; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô CS03714 ngày 02/11/2021, do Sở Tài nguyên môi trường cấp cho bà Nguyễn Thị H thửa đất 209, có diện tích 46,6m², loại đất ở tại nông thôn.
[5] Đối chiếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Nguyễn Thị H được cấp với biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang và mảnh trích đo địa chính số 58/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty cổ phần Đ thể hiện: Thửa đất 209 có vị trí tiếp giáp thửa 2473 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00338 ngày 26/8/2011, do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp cho ông Lê Văn M và bà Phạm Thị T1 diện tích 253,4 m² loại đất ở tại nông thôn. Thửa 208 có một phần tiếp giáp và một phần thửa 2472 có diện tích 1.899 m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS033377 ngày 02/11/2021 do Sở T2 cấp cho ông Đỗ Văn N.
[6] Căn cứ vào vị trí đất tranh chấp do nguyên đơn chỉ đã đo đạc thực tế cụ thể tại vị trí (V), (VII), (VI), (III) thuộc mảnh trích đo địa chính số 58/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty cổ phần Đ thì bà H không có phần đất nào được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiếp giáp với vị trí phần đất tranh chấp với các bị đơn Đỗ Văn N, Trần Văn K, Bùi Thị N1, Lê Văn M và ông Đỗ Văn N.
[7] Qua thể hiện hiện trạng đo đạc thực tế vị trí đất tranh chấp do bà H chỉ thực tế tại vị trí số (I) có 110m² thuộc thửa 2473 đối chiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00338 ngày 26/8/2011 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp cho ông Lê Văn M và bà Phạm Thị T1 diện tích 253,4 m² loại đất ở tại nông thôn là chưa đủ diện tích tại thửa 2473.
[8] Qua thể hiện hiện trạng đo đạc thực tế vị trí đất tranh chấp do bà H chỉ thì tại vị trí số (I) có diện tích 491,2 m², vị trí số (II) có 31,4m² vị trí số (I) có diện tích 934m², nếu cộng luôn phần vị trí (III) là phần đất tranh chấp có diện tích 37,2 m² thì tổng diện tích đo đạc tại thửa 2472 là 1.493,8m². Đối chiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa 2472 có diện tích 1899 m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS033377 ngày 02/11/2021 do Sở T2 cấp cho ông Đỗ Văn N là chưa đủ diện tích tại thửa 2472.
[9] Từ những chứng cứ nêu trên, không có chứng cứ chứng minh các bị đơn lấn, chiếm đất của nguyên đơn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Buộc ông Đỗ Văn N trả phần đất tại vị trí (V) là 60,2 m²; buộc ông Trần Văn K trả diện tích 38,1 m² tại vị trí (VII); buộc bà Bùi Thị N1 trả diện tích 150,2 m² tại vị trí (VI); buộc ông Lê Văn M và ông Đỗ Văn N trả phần đất diện tích 37,2 m² tại vị trí số (III) thuộc mảnh trích đo địa chính số 58/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty cổ phần Đ. Từ những nhận định nêu xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.
[10] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự nguyên đơn phảo chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản với số tiền 6.150.000 đồng, nguyên đơn đã nộp xong.
[11] Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 miễn án phí cho nguyên đơn với lý do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ các Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5, 7 Điều 166, Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các bị đơn: ông Đỗ Văn N trả phần đất tại vị trí (V) là 60,2 m²; buộc ông Trần Văn K trả diện tích 38,1 m² tại vị trí (VII); buộc bà Bùi Thị N1 trả diện tích 150,2 m² tại vị trí (VI); buộc ông Lê Văn M và ông Đỗ Văn N trả phần đất diện tích 37,2 m² tại vị trí số (III) thuộc mảnh trích đo địa chính số 58/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty cổ phần Đ (có kèm theo mảnh trích đo địa chính).
[3] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu 6.150.000 đồng (sáu triệu một trăm năm mươi nghìn đồng, nguyên đơn đã nộp xong).
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho nguyên đơn.
[5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[6] Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Diệu |
Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 78/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yc
