|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2023/HS-ST Ngày: 17-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thanh Thủy
2. Bà Dương Thị Thu Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Lệ Hoài - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nhữ Như Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/11/1975; Nơi sinh: Đ, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ A, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1942, con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1941; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
- + Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958 – Vắng mặt
- Nơi cư trú: Tổ B, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Nguyễn Nam T1, Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Những người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Nguyễn Ngọc C, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Ông Nguyễn Việt H1, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 11/7/2023 tổ công tác Công an huyện Đ, tỉnh Thái nguyên phối hợp cùng Công an thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn tổ C, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Nguyễn Văn K đang có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tiến hành kiểm tra, K tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải mình đang mặc ra 01 gói nhỏ giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác (K khai nhận đó là Heroine của K). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Hồi 19 giờ cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn K tại Tổ A, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn K khi bắt quả tang có khối lượng là 0,158 gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định- ký hiệu A1. Tại bản Kết luận giám định số 924/KL-KTHS ngày 19/7/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Al gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine; có khối lượng: 0,158 gam.
Quá trình điều tra đã làm rõ, bản thân K là người nghiện chất ma túy nên thường xuyên đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/7/2023, K một mình đi bộ từ nhà tại Tổ A, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực cổng Trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Đ thuộc Tổ C, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với mục đích tìm mua ma túy Heroine về để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, K gặp một người phụ nữ (không biết tên, địa chỉ) đứng ở rìa đường, K đi lại gần và hỏi người phụ nữ “Có hàng không bán cho anh một trăm), (ý hỏi mua 100.000đ tiền ma túy Heroine), người phụ nữ trả lời “Có” và đồng ý bán cho K, sau đó K đưa tiền cho người phụ nữ đó thì được đưa lại 01 gói nhỏ bằng giấy màu trắng bên trong có ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy Heroine K cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà, trên đường về thì bị tổ công tác Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và LK hiện đang được lưu giữ, bảo quản chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSĐH, ngày 17/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1 và LK.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 11/7/2023, tại khu vực tổ C, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Văn K đang có hành vi tàng trữ 0,158 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ số Heroine trên. Về nguồn gốc số Heroine trên là do K mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực cổng trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thuộc Tổ C, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển ... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
a)....;
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,....”.
[2]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện chất ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung; tuy nhiên, cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời, mặt khác bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng và các nội dung khác của vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận; tuy nhiên về mức hình phạt đối với bị cáo còn có phần nghiêm khắc so với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[5]. Vật chứng của vụ án: Đối với 02 phong bì niêm phong kí hiệu A1, LK (bên trong có chứa vỏ bì và số chất ma túy còn lại sau giám định) là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử. Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[8]. Ngoài ra, trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy của một phụ nữ không biết tên, địa chỉ tại khu vực cổng Trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Đ thuộc tổ C, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; do không xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ của đối tượng trên nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn K 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn kí hiệu: A1, LK.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/10/2023 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |
5
Bản án số 78/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 78/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn K 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. 2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn kí hiệu: A1, LK.
