|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 778/2023/DS-PT Ngày: 16/11/2023 V/v “Tranh chấp tranh chấp QSDĐ; Hủy GCN QSDĐ" |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đức Thọ
Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 128/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 03 năm 2023 về việc “Tranh chấp QSDĐ; Hủy GCN QSDĐ”.
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh L, sinh năm 1961; Địa chỉ: C L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn:
- Ông Đoàn Văn H, sinh năm 1940, (chết ngày 07/02/2022)
- Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1946 (Vợ) (có mặt)
- Ông Đoàn Văn H1, sinh năm 1969 (Con) (vắng mặt)
- Ông Đoàn Tấn D, sinh năm 1974 (Con) (vắng mặt)
- Bà Đoàn Thị Ngọc D1, sinh năm 1976 (Con) (có mặt)
- Bà Đoàn Thị Ngọc D2, sinh năm 1979(Con) (vắng mặt)
- Ông Đoàn Vĩnh P, sinh năm 1982 (Con) (vắng mặt)
- Bà Đoàn Thị Cẩm V, sinh năm 1985 (Con) (có mặt)
- Bà Đoàn Thị Ngọc D3, sinh năm 1970 (Con) (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1946; Địa chỉ: F khu phố B, Đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H:
Người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H: Ông Nguyễn T, sinh năm 1983; Địa chỉ liên hệ: Lầu C, tòa nhà S C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh(có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà R là Ông Nguyễn T (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1950; Địa chỉ: C đường L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1952, (chết năm 2022)
- Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1976 (Con) (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Minh C1, sinh năm 1979(Con) (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1957; Địa chỉ: 3 L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mai P1, sinh năm 1959; Địa chỉ: C đường L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt)
- Ông Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: G đường G, khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Phi K, sinh năm 1965 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1967(vắng mặt)
- Ông Phan Hiếu N1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Ông Phan Hiếu L2, sinh năm 1972(vắng mặt)
- Bà Võ Thị Kim H2, sinh năm 1964; Địa chỉ liên lạc: C L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Võ Thị Vân H3 (S), sinh năm 1966
- Ông Võ Tấn N2, sinh năm 1943 (chết)
- Bà Đoàn Thị Cẩm V, sinh năm 1985; Địa chỉ: 1 khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Đoàn Tấn D, sinh năm 1974(vắng mặt)
- Bà Đoàn Thị Ngọc D2, sinh năm 1979(vắng mặt)
- Ông Đoàn Vĩnh P, sinh năm 1982(vắng mặt)
- Ông Đoàn Văn H1, sinh năm 1969(vắng mặt)
- Bà Đoàn Thị Ngọc D3, sinh năm 1970(vắng mặt)
- Ông Đỗ Anh H4, sinh năm 1981(vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Trẻ Đỗ Hải C3, sinh năm 2012. (vắng mặt)
- Trẻ Đỗ Hải N3, sinh năm 2014(vắng mặt)
- Ông Vũ Xuân K1, sinh năm 1977; Địa chỉ: A Đường T, tổ A, KP6, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1990; Địa chỉ: 523/11/8 L, tổ E, KP5, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Vũ Quý H5, sinh năm 1983; Địa chỉ: 4 Đường số C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Võ Xuân Đ1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị H6, sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Trẻ Võ Xuân Q1, sinh năm 2009(vắng mặt)
- Trẻ Võ Thị Thiên N4, sinh năm 2017(vắng mặt)
- Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị D4, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Trẻ Phạm Thế A1, sinh năm 2005(vắng mặt)
- Trẻ Phạm Mạnh Q2, sinh năm 2012(vắng mặt)
- Ông Nguyễn Tiến H7, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Bà Lã Thị P2, sinh năm 1989 (vắng mặt)
- Trẻ Nguyễn Tiến H8, sinh năm 2009(vắng mặt)
- Trẻ Nguyễn Tiến T4, sinh năm 2011(vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T5; Địa chỉ: A Đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt)
- Công ty TNHH D5 (Havico); Trụ sở: A D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ Văn phòng giao dịch: 119 Đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ủy ban nhân dân Quận A2, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở: số A L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ngân hàng TMCP Á; Hội sở: 1 C, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ngân hàng N7; Hội sở: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Chi nhánh G: A P, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Phan Thị Bửu L4, sinh năm 1974; Địa chỉ: 7 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt)
- Ông Nguyễn Long M, sinh năm 1954; Địa chỉ: 225 31st S, C, IA 52405, USA.
- Bà Ông Thị Hoàng M1, sinh năm 1971; Địa chỉ: NL5-A01, KDC S, QL1, T, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1:
Cùng địa chỉ: C đường L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C1: ông Trần Đình Q (có mặt)
Cùng địa chỉ: C đường L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của bà N, bà P1, ông Đ, ông K, ông S, ông N1, ông L2: là Bà Nguyễn Thị Minh L. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà H3: Bà Võ Thị Kim H2, sinh năm 1964(vắng mặt)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N2: bà Võ Diệu T2; Địa chỉ: A W, #C, San Gabriel C2. 91776-USA(vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền là Ông Nguyễn Trình . (có mặt)
Cùng địa chỉ: 1 khu phố B, phường T. Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền là Ông Nguyễn Trình . (có mặt)
Người đại diện theo pháp luật của trẻ C3 và trẻ N3: Ông Đỗ Anh H4 và bà Nguyễn Thị Ngọc B. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: A Đường T, tổ A, KP6, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của trẻ Q1 và trẻ N4: Ông Võ Xuân Đ1 và bà Phạm Thị H6. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của trẻ Thế A1 và trẻ M: Ông Phạm Văn T3 và bà Phạm Thị D4. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của trẻ H8 và trẻ T4: Ông Nguyễn Tiến H7 và bà Lã Thị P2. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: A Đường T, tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Anh H4 - Giám đốc(vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Vĩnh L3; địa chỉ liên lạc: lầu 8, tòa nhà A, D C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh(có mặt)
Người đại diện ủy quyền của bà L4 là Bà Nguyễn Thị Minh L (có mặt)
Người đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kiều N (vắng mặt)
Người đại diện ủy quyền: Bà Võ Thị Kim H2(vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Thị L1 - Công ty L7, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Nhà B, ngách A, ngõ A T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Minh L5 trình bày:
Nguồn gốc đất: Căn cứ vào “Tờ bán đứt đất” ngày 28/7/1940 và T6 sao địa bộ thì ông Võ Văn N5 là ông cố ngoại của nguyên đơn. Ông Võ Văn N5 mua của những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T7 và bà Phạm Thị N6 phần đất diện tích 4.800m², thửa 364 (cũ 467), tờ bản đồ số 1, tại xã T. Sau đó ông N5 để lại Tờ chúc ngôn để lại phần đất này cho ông Võ Văn M2 là ông ngoại của nguyên đơn làm đất hương hỏa. Ông M2 rào lại đất xung quanh bằng tre, để xây mồ mả, từ đường, lúc đó có trên 16 ngôi mộ của dòng họ Võ, mộ sớm nhất năm 1941, mộ gần đây nhất là năm 2003. Năm 1957 ông M2 chết chôn tại đó, diện tích chôn mồ mả khoảng 500m² nằm trên phần đất có diện tích 2.578m². Còn phần đất còn lại bên kia con đường có diện tích hơn 1.000m² ông H bà R đã bán cho người khác.
Cuối năm 1998 ông H và bà R ở cạnh phần đất trên, được A2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ngày 04/11/2001 A2 đã có quyết định số 127/QĐ-UB về việc thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01054/QSDĐ/Q12/1998 ngày 12/12/1998 cấp cho ông H.
Năm 1999 gia đình bà có đăng ký kê khai nhưng ông H bà R đã kê khai. Khi biết ông H kê khai, các thành viên trong gia tộc liên tục khiếu nại tại ủy ban. Năm 2015 vụ việc tranh chấp được hòa giải tại phường T, tuy nhiên hai bên không thống nhất được nên bà L5 đã tiến hành khởi kiện ra Tòa án. Trong thời gian vụ án đang được giải quyết thì ông H và bà R tự ý chia đất bán cho những người khác, những người này đã xây nhà và được cấp GCN.
Nay nguyên đơn yêu cầu:
- Buộc ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị R phải trả lại cho gia đình nguyên đơn diện tích đất tranh chấp theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T8 lập ngày 15/9/2022 với diện tích 4.300,7m² (Khu I là 1.323,5m² và Khu II là 2,977,2m²) tọa lạc tại phường T, Quận A.
- Hủy GCN QSDĐ, QSHNO và TSKGLVĐ số CS 06436 do Sở T8 cấp cho ông Đỗ Anh H4 ngày 11/11/2016.
- Hủy GCN QSHNO và QSDĐ số CH 04991 ngày 30/01/2015 do A2 cấp cho ông Vũ Xuân K1.
- Hủy GCN QSDĐ QSHNO và TSKGLVĐ số CH05003 ngày 02/02/2015 do A2 cấp cho bà Đoàn Thị Ngọc D3.
Bị đơn ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị R do ông Nguyễn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ năm 1950 ông M2 đã giao toàn bộ phần đất tranh chấp cho cha mẹ ông H canh tác, sau khi cha mẹ ông H chết thì giao lại phần đất trên cho ông H (ông M2 chỉ nói miệng, không có giấy tờ). Từ 1950 ông H canh tác liên tục, đến năm 1972 chế độ trước cấp chứng khoán rồng vàng (người cày có ruộng).
Năm 1998 bị đơn được A2 cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 01054/QSDĐ/Q12/1998 ngày 12/12/1998 đối với phần đất có diện tích 2.578m², trong thời gian đó bà H9 là con ông M2 kiện nhưng P3 và Q3 không chấp nhận. Sau đó bà H9 tiếp tục khiếu nại và được UBND Thành phố giải quyết bằng quyết định số 574/QĐ-UB ngày 06/02/2002, trong quyết định có ghi rõ giao lại phần đất có mồ mả giao cho gia tộc bà H9 quản lý, trông nom, diện tích đất còn lại công nhận quyền sử dụng đất cho ông Đoàn Văn H.
Giấy chứng nhận số 01054/QSDĐ/Q12/1998 ngày 12/12/1998 UBND thu hồi là căn cứ vào quyết định số 574/QĐ-UB ngày 06/02/2002 của Chủ tịch UBND Thành phố H, vì phải trừ lại phần đất có mồ mả nên phải đổi giấy chứng nhận, bị đơn đang xin đổi lại nhưng do có tranh chấp trong vụ án nên hồ sơ xin cấp đổi giấy chứng nhận bị tạm dừng. Theo biên bản cắm ranh ngày 05/01/2004 v/v thực hiện quyết định số 574/QĐ-UB trên thì diện tích đất mộ là 210,3m².
Đối với phần đất Khu I theo Bản vẽ hiện trạng ngày 14/10/2019 đã làm giấy tờ chuyển mục đích sử dụng và được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H bà R đã bán 186m² cho hộ ông Đỗ Anh H4 và bán 108,6m² ông Vũ Xuân K1, tặng cho bà Đoàn Thị Ngọc D3 375,7m² và phần còn lại 429,4m² vẫn do ông H bà R đứng tên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thị Kiều N, bà Nguyễn Thị Mai P1, ông Nguyễn Phát Đ, ông Nguyễn Phi K, ông Nguyễn Hồng S, ông Phan Hiếu L2, ông Võ Tấn N2, bà Phan Thị Bửu L4 do bà Nguyễn Thị Minh L là người đại diện hợp pháp trình bày: Đồng ý với toàn bộ phần trình bày của nguyên đớn là bà Nguyễn Thị Minh L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Võ Thị Kim H2 trình bày: Đồng ý với toàn bộ phần trình bày của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Minh L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Đoàn Thị Cẩm V, ông Đoàn Tấn D, bà Đoàn Thị Ngọc D2, bà Đoàn Thị Ngọc D1, ông Đoàn Vĩnh P, ông Đoàn Văn H1 do ông Nguyễn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà V, ông D, bà D2, ông P, ông H1 do ông Nguyễn T đại diện thống nhất với toàn bộ trình bày của bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Đoàn Thị Ngọc D3 do ông Nguyễn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Đoàn Thị Ngọc D3 không đồng ý với yêu cầu hủy GCN số CH05003 ngày 02/02/2015 của bà Đoàn Thị Ngọc D3 do bà nhận tặng cho hợp pháp từ cha mẹ bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Anh H4 và bà Nguyễn Thị Ngọc B trình bày: Vợ chồng ông H4 bà B đã được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất tại thửa số 564, tờ bản đồ số 17, địa chỉ 119 Đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, số vào sổ cấp GCN: CS06436 ngày 11/11/2016. Do đó, vợ chồng ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận số CS06436. Vì có con nhỏ và bận công việc nên vợ chồng ông bà xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, phiên họp hòa giải và phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Quý H5 trình bày: Ngày 13/01/2017 tại Phòng C4 ông H5 có vay số tiền 400.000.000 đồng của Ngân hàng N7 chi nhánh G. Để bảo lãnh cho khoản vay trên, vợ chồng ông K1 và bà Nguyễn Thị V1 đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 565, tờ bản đồ số 17, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc vợ chồng ông K1, bà V1 thế chấp tài sản trên đối với khoản vay 400.000.000 đồng là đúng với quy định của pháp luật vì tài sản trên thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông K1. Do đó, ông H5 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Tiến H7 trình bày: Gia đình ông thuê nhà số A Đường T của ông H và bà R từ năm 2019. Đối với tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Mỉnh L6 và ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị R thì gia đình ông không có ý kiến, xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Võ Xuân Đ1, bà Phạm Thị H6 trình bày: Ông Đ1 và bà H6 là người thuê nhà số A Đường T của ông H và bà R từ năm 2015. Đối với tranh chấp giữa bà L6 và ông H, ông bà không có ý kiến. Ông Đ1 và bà H6 xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân Quận A2, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Ủy ban nhân dân Quận A2 không có ý kiến trong vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất trên”. Ủy ban nhân dân Quận A2 xin vắng mặt trong quá trình điều tra, xác minh hòa giải và phiên xét xử vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có) với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Vũ Xuân K1 do bà Cao Thị H10 là người đại diện theo ủy quyền và bà Nguyễn Thị V1 trình bày:
Việc ông K1 nhận chuyển nhượng thửa đất số 565 tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002, hoàn tất thủ tục giấy tờ năm 2014 là đúng quy định pháp luật.
Năm 2013 ông K1 xây dựng nhà trên thửa đất này, mang số 121 Đường T, tổ A, KP.6, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và cả gia đình sinh sống ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp. Ngày 30/01/2015 A2 cấp cho ông Vũ Xuân K1 GCN QSHNO và QSDĐ số CH04991 đối với nhà đất trên. Ngày 13/01/2017 vợ chồng ông K1, Bà Nguyễn Thị V1 thế chấp nhà đất này cho Ngân hàng N7 - Chi nhánh G để vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn là 60 tháng. Năm 2018 ông K1 đã cho Công ty TNHH D5 (H) thuê nhà để lấy tiền trang trải cuộc sống. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy GCN của ông K1, ông K1 đồng ý với Chứng thư thẩm định giá do công ty TNHH T9 lập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ngân hàng N7 - Chi nhánh G trình bày: Ngày 13/01/2022 ông Vũ Quý H5 đã thanh toán hết toàn bộ số nợ của hợp đồng tín dụng số 6400-LAV-201700062 giữa Ngân hàng và ông Vũ Xuân K1. Do đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án cho phép vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ngân hàng TMCP Á do bà Bùi Thị Hoàng Y là người đại diện hợp pháp trình bày: Ông Đỗ Anh H4 và bà Nguyễn Thị Ngọc B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 564, tờ bản đồ số 17, địa chỉ 119 Đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, số vào sổ cấp GCN: CS06436 ngày 11/11/2016 (Nguồn gốc: nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất: 109,2m², nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất: 75m² từ ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị R).
Ngày 27/6/2017, ông H4 và bà B thế chấp cho A3 toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 564 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của công ty TNHH D5 với A3 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LVK.BĐDN.287.210617 công chứng ngày 27/6/2017 và đăng ký thế chấp ngày 28/6/2017. Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số LVK.BĐDN.287.210617/SĐBS-01 công chứng ngày 07/6/2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số LVK.BĐDN.287.210617/SĐBS-02 công chứng ngày 02/7/2019. Hợp đồng thế chấp trên là đúng quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực. Hiện nay ngân hàng vẫn còn giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 564, tờ bản đồ số 17, địa chỉ 119 Đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, số vào sổ cấp GCN: CS06436 ngày 11/11/2016 do Công ty H11 vẫn chưa thanh toán số tiền nợ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy Giấy chứng nhận của thửa đất số 564 ngân hàng không đồng ý do không có căn cứ, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Long M do bà Nguyễn Thị Kiều N là người đại diện theo ủy quyền và bà Ô Thị Hoàng M1 do bà Võ Thị Kim H2 là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Minh L và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 1823/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; Điều 34; điểm a Khoản 1 Điều 37; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015; Điều 50 Luật đất đai năm 2003 và Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh L đối với các yêu cầu:
- + Buộc ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị R phải trả lại cho gia đình nguyên đơn diện tích đất tranh chấp theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T10 lập ngày 15/9/2022 (Khu I là 1.323,5m² và Khu II là 400m²) tọa lạc tại phường T, Quận A.
- + Hủy GCN QSDĐ QSHNO và TSKGLVĐ số CS 06436 ngày 11/11/2016 do Sở T8 cấp cho ông Đỗ Anh H4.
- + Hủy GCN QSHNO và QSDĐ số CH04991 ngày 30/01/2015 do A2 cấp cho ông Vũ Xuân K1.
- + Hủy GCN QSDĐ QSHNO và TSKGLVĐ số CH05003 ngày 02/02/2015 do A2 cấp cho bà Đoàn Thị Ngọc D3.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỉnh L6 đối với phần đất có diện tích 2.578m² theo quyết định 574/QĐ-UB ngày 06/02/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố H.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Minh L (nguyên đơn) kháng cáo cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp 4.800m² (đo thực tế 4.674,1m²) tọa lạc tại xã T (nay là phường T), Quận A, TP . có nguồn gốc do gia tộc để lại, cố Võ Văn N5 (là cha cụ Võ Văn M2) mua lại của những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T7, bà Phạm Thị N6. Năm 1940 cố N5 lập chúc ngôn để lại phần đất trên cho cụ M2 (ông ngoại của bà L) để làm đất hương hỏa, có trước bạ của chế độ cũ vào năm 1940. Khu đất trên thành đất thổ mộ của gia đình, cố Nhơn mất năm 1947, cụ M2 mất năm 1957, mộ của cha mẹ của cố N5 cũng chôn tại khu đất trên. Hiện nay khu đất trên có 10 ngôi mộ mang họ võ, từ năm 1940 đến năm 2003, mỗi tháng vào ngày rằm và mùng 1 thì gia đình đều lên cúng kiếng, chăm sóc mộ phần. Phía bị đơn cho rằng cụ M2 cho cha mẹ của phía bị đơn từ năm 1950, cho bằng miệng là phi lý, vì không ai mang mồ mả tổ tiên cho người khác. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng phía bị đơn sử dụng đất ổn định, lâu dài, nên xử bác yêu cầu của bà, công nhận 1.323,5m² đất khu 1 và 400m² đất khu 2 cho phía bị đơn và đình chỉ yêu cầu của bà đòi 2.578m² đất tại khu 2 với lý do cho rằng UBND giải quyết đã có hiệu lực pháp luật. Việc giải quyết như trên là không đúng, nên bà kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, chấp nhận theo đơn khởi kiện của bà.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L cũng như luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà L cho rằng: ông Võ Tấn N2 chết nên yêu cầu đưa bà Võ Diệu T2 (vợ của ông N2) tham gia tố tụng (vì ông N2 không có con); Phía bị đơn cho rằng vào năm 1973, chế độ cũ cấp phần đất trên cho bị đơn theo diện người cày có ruộng là không đúng (cấp phần đất khác chứ không phải đất đang tranh chấp); Phần đất trên có mồ mả gia tộc, bị đơn cho rằng cụ M2 đã cho cha mẹ của ông H là không đúng; Việc gia đình ông H tự ý chiếm đất, phân lô bán lại cho nhiều người khác, được UBND cấp giấy chứng nhận QSDĐ, các quan hệ này vô hiệu; Yêu cầu sửa án sơ thẩm, công nhận toàn bộ phần đất trên cho bà L, bao gồm cả phần đất ở khu 1 có 2 ngôi mộ mà gia đình ông H đã bốc mộ đem đi nơi khác.
- Đại diện cho phía bị đơn cho rằng: năm 1972 thì chế độ cũ công nhận QSDĐ cho bị đơn. Bị đơn sử dụng đất từ năm 1950 đến nay, yêu cầu công nhận toàn bộ đất cho bị đơn.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng án sơ thẩm xử như trên là đúng, nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh L, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh L được làm và nộp trong thời hạn luật định nên đây là kháng cáo hợp lệ.
[2] Xét về nội dung vụ án thì thấy:
- - Về nguồn gốc đất tranh chấp:
- + Phía nguyên đơn trình bày: phần đất tranh chấp là của cố Võ Văn N5 mua vào năm 1940, cố N5 lập tờ chúc ngôn để lại cho cụ Võ Văn M2 (là ông ngoại của nguyên đơn), cụ M2 chết năm 1957, chôn tại phần đất này cùng với cha mẹ của cụ M2.
- + Phía bị đơn cũng xác định: phần đất này do cụ M2 cho lại cha mẹ của ông Đoàn Văn H vào năm 1950, vì thời gian đó cha mẹ của ông H làm chủ chùa V2 (cho miệng, không có giấy tờ). Sau khi cha mẹ của ông H chết thì ông H, bà R tiếp tục sử dụng phần đất trên, đến năm 1998 thì ông H bà R được A2 cấp GCN QSDĐ.
- - Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại tòa sơ thẩm, hai bên đương sự (nguyên đơn và bị đơn) đều thống nhất diện tích đất tranh chấp theo kết quả đo vẽ của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T8 lập ngày 15/9/2022, có diện tích là 4.300,7m² (khu I diện tích 1.323,5m²; Khu II diện tích 2.977,2m²) tại phường T, Quận A.
- - Theo hồ sơ Khu I có diện tích 1.323,5m² được A2 cấp QSDĐ cho ông H bà R vào năm 1998. Sau đó ông H bà R chuyển nhượng lại cho ông Đỗ Anh H4 186m² được A2 cấp QSDĐ cho ông H4 theo GCN QSDĐ số CH 06436; chuyển nhượng lại cho ông Vũ Xuân K1 108,6m² được A2 cấp GCN QSDĐ số CH 04991; chuyển nhượng lại cho bà Đoàn Thị Ngọc D3 375,7m² được A2 cấp GCN QSDĐ số CH 05003; Diện tích đất còn lại 653,2m² trong đó có 258,8m² ông H bà R chưa được cấp QSDĐ.
- - Đối với phần đất trên có công trình nhà ở trên đất, cha mẹ của ông H cũng như ông H bà R sử dụng ổn định từ những năm 1950 cho đến nay, nên án sơ thẩm xử không chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn đòi lại phần đất khu I có diện tích 1.323,5m² như trên là có căn cứ.
- - Đối với phần diện tích đất ở khu II có diện tích 2.977,2m², theo án sơ thẩm xác định theo giấy chứng nhận QSDĐ số 01054/QSDĐ/Q12/1998 ngày 12/12/1998 thì A2 cấp 2.578m² đất cho ông H bà R, còn lại 400m² chưa được cấp QSDĐ. Tại quyết định số 127/QĐ-UB ngày 10/5/2001 thì A2 thu hồi lại giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông H bà R số 01054 nêu trên. Tại quyết định giải quyết khiếu nại số 64/QĐ-UB ngày 04/7/2001 của Chủ tịch A2, cũng như quyết định giải quyết khiếu nại số 574/QĐ-UB ngày 06/02/2002 của U thì giữ y theo quyết định số 127/QĐ-UB. Tại quyết định số 574/QĐ-UB của U giao cho A2 xác định lại diện tích đất mồ mả là bao nhiêu để giao lại cho nguyên đơn, phần đất ngoài mồ mả thì công nhận cho bị đơn.
- - Thực hiện theo quyết định số 574/QĐ-UB ngày 06/02/2002, A2 tuy không có ra quyết định giải quyết lại về phần đất tranh chấp trên, nhưng chỉ đạo đội Trật tự đô thị tiến hành đo đạc, cắm mốc phần đất có các ngôi mộ với diện tích 214,2m² để bàn giao cho ông Phan Hiếu N1 đại diện cho phía nguyên đơn vào ngày 05/01/2004, nhưng phía bên ông N1 vắng mặt (chỉ ghi biên bản cắm mốc chứ chưa bàn giao). Theo phía nguyên đơn thì cho rằng không đồng ý với việc giải quyết nêu trên của đội Trật tự đô thị Quận A, nên khiếu nại yêu cầu giải quyết tiếp thì A2 có công văn số 6953/UBND-TNMT ngày 12/11/2015 hướng dẫn cho nguyên đơn khởi kiện vụ án tại tòa án, nên nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh L khởi kiện vụ án tại tòa án. Phía A2 cho rằng thực hiện theo quyết định số 574/QĐ-UB của U, đội Trật tự đô thị đo đạc, cắm mốc phần đất mồ mả giao lại cho phía nguyên đơn, UBND không giải quyết nữa, nếu các đương sự còn tranh chấp thì khởi kiện vụ án tại tòa án.
- Xét về nguồn gốc đất thì của gia tộc nguyên đơn để lại, nhưng phía cha mẹ của bị đơn sử dụng ổn định từ năm 1950, quá trình sử dụng thì hộ ông Đoàn Văn H kê khai đăng ký, phía gia đình nguyên đơn không có kê khai đăng ký. Căn cứ vào Điều 50 Luật đất đai 2013 thì người trực tiếp sử dụng đất có đủ điều kiện được cấp GCN QSDĐ. Trong trường hợp có tài sản trên đất thì phải xem xét việc người trực tiếp sử dụng đất, tài sản trên đất có hợp pháp hay không. Trong trường hợp trên, án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi công nhận các ngôi mộ tồn tại trên diện tích đất 214,2m² theo biên bản đo đạc như trên là không đúng, nên chấp nhận theo kháng cáo của nguyên đơn bà L, công nhận phần đất có mộ, diện tích 214,2m² (theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T10 lập ngày 15/9/2022) cho gia tộc của nguyên đơn. Phần còn lại, diện tích đất ở khu I không chấp nhận việc phía nguyên đơn đòi công nhận cho phía nguyên đơn là đúng.
- - Đối với phần diện tích đất tranh chấp ở khu II, có diện tích 2.978m², tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi lại 400m² đất ở khu II và đình chỉ giải quyết phần đất 2.578m² vì cho rằng quyết định giải quyết khiếu nại số 574/QĐ-UB đã có hiệu lực pháp luật. HĐXX xét thấy: như nhận định trên, quyết định số 574/QĐ-UB ngày 06/02/2002 của U giao về cho A2 giải quyết lại để công nhận phần diện tích đất có mồ mả cho phía nguyên đơn, A2 chưa có quyết định giải quyết lại, tại công văn số 5431/UBND-TNMT ngày 19/7/2018 thì A2 cho rằng tranh chấp phần đất trên là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và hướng dẫn các đương sự khởi kiện tại tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, nhưng cùng một khu đất thì tòa án cấp sơ thẩm lại xử một phần bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, một phần thì cho rằng quyết định số 574/QĐ-UB có hiệu lực và đình chỉ xét xử. Việc xử bác 1 phần yêu cầu và đình chỉ một phần yêu cầu của đương sự như trên là không đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, HĐXX cũng xét thấy nếu hủy án sơ thẩm về phần thủ tục tố tụng để giải quyết lại thì cũng không làm thay đổi nội dung vụ án, nên chỉ cần sửa án sơ thẩm, công nhận 1 phần đất khu II có diện tích đất mồ mả bằng 214,2m² cho nguyên đơn là phù hợp với pháp luật quy định.
- Phần còn lại, diện tích đất ở khu I có diện tích 1.323,5m² và diện tích đất ở khu II có diện tích 2.763,8m² không được công nhận cho phía nguyên đơn.
- Vì vậy, HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh L, sửa bản án sơ thẩm như nhận định trên.
- - Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định trên, nên không được chấp nhận.
- Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh L.
- Sửa một phần bản án sơ thẩm.
[2] Áp dụng Khoản 9 Điều 26; Điều 34; điểm a Khoản 1 Điều 37; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015; Điều 50 Luật đất đai năm 2003 và Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh L.
Tuyên xử:
- - Công nhận phần đất có mồ mả diện tích 214,2m² tại khu II theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T10 lập ngày 15/9/2022 (tương ứng các mục 50, 51, 52, 54, 55, 56, 57, 59 theo bản vẽ) tọa lạc tại phường T, Quận A, TP. thuộc quyền quản lý, sử dụng của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh L.
- - Buộc phía bị đơn và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Đoàn Văn H gồm: bà Nguyễn Thị R, anh Đoàn Văn H1, anh Đoàn Tấn D, chị Đoàn Thị Ngọc D1, chị Đoàn Thị Ngọc D2, anh Đoàn Văn P4, chị Đoàn Thị Cẩm V, chị Đoàn Thị Ngọc D3 phải giao trả lại diện tích đất 214,2m² đất tại khu II theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T10 lập ngày 15/9/2022 (tương ứng các mục 50, 51, 52, 54, 55, 56, 57, 59 theo bản vẽ) tọa lạc tại phường T, Quận A, TP . như trên cho bà Nguyễn Thị Minh L. (Bản vẽ được đính kèm theo bản án này).
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh L yêu cầu bị đơn và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Đoàn Văn H phải trả lại diện tích đất tại khu I có diện tích 1.323,5m² và diện tích đất khu II có diện tích 2.763,8m² tại phường T, Quận A, TP . (theo bản vẽ nêu trên).
- - Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh L đòi hủy các giấy chứng nhận QSDĐ mà UBND đã cấp cho những người còn lại ngoài diện tích đất đã được công nhận cho bà Nguyễn Thị Minh L nêu trên.
- - Căn cứ vào quyết định này, các đương sự có quyền kê khai đăng ký để xin cấp GCN QSDĐ theo quy định của pháp luật.
- - Bà Nguyễn Thị Minh L không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Phần bản án sơ thẩm tuyên hoàn trả cho bà L số tiền 36.000.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0031100 ngày 19/9/2016 và 900.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0025892 ngày 14/6/2019 tại Cục thi hành án dân sự TP . đã có hiệu lực pháp luật.
- - Phần chi phí tố tụng khác, các đương sự tự nguyện chịu theo như án sơ thẩm xử đã có hiệu lực pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền được thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu khởi kiện thỉ hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[3] Bà Nguyễn Thị Minh L không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/11/2023.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Chánh Trung |
Bản án số 778/2023/DS-PT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp qsdđ; hủy gcn qsdđ
- Số bản án: 778/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ; Hủy GCN QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa 1 phần bast
