|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 778/2024/HS-PT Ngày: 20/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hưng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Ông Trần Xuân Thảo.
- Thư ký phiên toà: Ông Thái Duy Khánh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hình sự thụ lý số 741/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Thị D, do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị D và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
* Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:
Đỗ Thị D, sinh năm 1982 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Số F T, Quán T, K, Hải Phòng. Chỗ ở: Số B N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Bùi Thị T1; có chồng là Đặng Quang C và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022 chuyển tạm giam; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Lê Đình H, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
Ngoài ra còn có các bị cáo Ngô Trương Phương B, Nguyễn Thị Hồng V, Đặng Tuấn A, Phạm Thị T2 không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20', ngày 05/01/2022, tại khu vực vòng xuyến Big C, Cơ quan Công an quận N bắt quả tang Nguyễn Quang B1 đang bán trái phép chất ma túy cho Lê Đình H1, sinh năm 1981, ĐKHKTT: số B Ngõ C, G, Ngô Q, Hải Phòng, chỗ ở D L, M, N, Hải Phòng. Thu giữ trên tay của H1 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng giám định là 0,06 gam ma túy loại Methamphetamine. Thu giữ của B1: 01 xe máy BKS 16K9-7320; 200.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphonne, 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng giám định là 0,40 gam ma túy loại Methamphetamine.
Khám xét chỗ ở của Nguyễn Quang B1 thu giữ: 01 cân tiểu ly, nhiều vỏ túi nilon kích thước các loại, 01 ống hút nhựa dài 12 cm, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bám dính tạp chất màu nâu đen giám định là Methamphetamine không đủ xác định khối lượng, 11 gói nilon chứa tinh thể màu trắng giám định là 3,61 gam ma túy loại Methamphetamine.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Quang B1 về việc những đối tượng đã tham gia mua bán trái phép chất ma túy với B1 và các tài liệu điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận N đã mở rộng điều tra vụ án khám xét, bắt giữ các đối tượng liên quan đến hành vi Mua bán trái phép chất ma túy cụ thể:
Ngày 05/01/2022, 06/01/2022, Cơ quan Công an quận N đã giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Thị T2, sau đó khám xét khẩn cấp nơi ở của T2 tại số C V, T, Hồ N, Hải Phòng, thu giữ 17 gói nilon chứa tinh thể màu trắng giám định tổng cộng là 62,4 gam ma túy Methamphetamine; 02 điện thoại di động Iphone, 01 điện thoại di động ITel; 01 gói nilon bên trong chứa nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại; 01 cân tiểu ly màu đen, 01 thìa kim loại dài khoảng 12 cm.
Ngày 05/01/2022, 06/01/2022, Cơ quan Công an quận N đã giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Thị D, sau đó khám xét khẩn cấp nơi ở đối với D tại số B N, V, L, Hải Phòng thu giữ 01 điện thoại di động Iphone, 01 điện thoại di động Nokia, 01 điện thoại di động Coolpad.
Quá trình thi hành Lệnh giữ người khẩn cấp đối với Đỗ Thị D tại số B N, Công an quận N bắt quả tang Đặng Tuấn A đang mang ma túy đến bán cho D và có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi áo khoác của Tuấn A 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng giám định là 0,38 gam ma túy loaị Methamphetamine; thu giữ tại võng xe máy do Tuấn A điều khiển 01 hộp giấy đựng 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng giám định là 99,97 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng giám định là 99,74 gam ma túy loại Methamphetamine. Ngoài ra còn thu giữ của Tuấn A 01 điện thoại di động OPPO, 01 điện thoại di động Nokia; 01 xe máy biển kiểm soát 15B3 - 806.37; Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Tuấn A tại số I Chợ Hàng, Dư H, Lê C1, Hải Phòng không thu giữ được gì.
Ngày 06/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận N đã giữ và bắt Ngô Trương Phương B trong trường hợp khẩn cấp, sau đó khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Ngô Trương Phương B tại 11C31 Trại Chuối, Hồ N, Hải Phòng thu giữ 01 điện thoại di động Iphone.
Ngày 24/10/2022, Phòng cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đã bắt được Nguyễn Thị Hồng V theo Quyết định truy nã, thu giữ của V 01 điện thoại Iphon, 01 điện thoại Nokia, 01 chứng minh nhân dân, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM V1 đều mang tên Nguyễn Thị Hồng V và 2.500.000 đồng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của V thu giữ 08 túi nilon và 01 gói giấy đều chứa tinh thể màu trắng giám định có 12,4 gam ma túy loại Methamphetamine. Ngoài ra còn thu giữ của V 40.000.000 đồng.
Ngày 05/05/2023, Nguyễn Thị Kim Q1 đã đến Công an phường C, quận L, thành phố Hải Phòng đầu thú về hành vi phạm tội.
Qua điều tra đã xác định được hành vi phạm tội của Đỗ Thị D, thể hiện: Trong thời gian từ 16/10/2021 đến 05/01/2022, Đỗ Thị D, Ngô Trương Phương B, Nguyễn Thị Kim Q1, Đặng Tuấn A, Nguyễn Thị Hồng V đã nhiều lần giao dịch mua bán trái phép chất ma túy kiếm lời, như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 16/10/2021, V gọi điện hỏi B mua 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng, B đồng ý. B bảo V chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của Nguyễn Thị Kim N (vợ B). V chuyển 36.000.000 đồng vào tài khoản của N (gồm 34.000.000 đồng mua 100 gam ma túy đá và 2.000.000 đồng trả nợ B). Tiếp đó B bảo N chuyển 33.000.000 đồng vào tài khoản của B, giữ lại cho B 3.000.000 đồng. B chuyển 33.000.000 đồng vào tài khoản cho D để mua 100 gam ma túy đá của D. Sau khi nhận tiền, D chuyển 30.000.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua 100 gam ma túy đá của Q1. Sau đó D nhận đủ ma túy và giao cho B, B giao lại ma túy cho V. V bán lại 100 gam ma túy đá cho Q2 với giá 35.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 22/10/2021, V gọi điện hỏi B mua 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng. B đồng ý. B bảo V chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của D. V đã chuyển 28.000.000 đồng vào tài khoản của D và đưa cho B 6.000.000 đồng. B đưa thêm cho D 5.000.000 đồng để mua ma túy. Sau khi nhận tiền, D chuyển 29.000.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua 100 gam ma túy đá của Q1. Sau đó D nhận đủ ma túy và giao cho B, B giao lại cho V. V bán lại 100 gam ma túy đá cho Q2 với giá 35.500.000 đồng.
Lần thứ ba: Ngày 02/11/2021, V gọi điện hỏi B mua 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng. B đồng ý. B bảo V chuyển tiền vào tài khoản của D. V chuyển 30.000.000 đồng vào tài khoản cho D và đưa 4.000.000 đồng cho B. B đưa thêm cho D 3.000.000 đồng để mua ma túy. Sau khi nhận tiền, D chuyển 20.000.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua 100 gam ma túy đá của Q1. Sau đó D nhận đủ ma túy và giao cho B, B giao lại ma túy cho V. V bán lại 100 gam ma túy đá cho Q2 với giá 35.000.000 đồng.
Lần thứ tư: Ngày 11/11/2021, V gọi điện hỏi B mua 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng. B đồng ý bán và bảo V chuyển tiền vào tài khoản của N (vợ B). V chuyển 36.000.000 đồng vào tài khoản của N (gồm 34.000.000 đồng để mua 100 gam ma túy đá và 2.000.000 đồng trả nợ B). B nhờ N chuyển 33.330.000 đồng vào tài khoản cho D để mua 100 gam ma túy đá và trả nợ D. Sau khi nhận tiền, D đã chuyển 19.000.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua 100 gam ma túy đá của Q1. Sau đó D nhận đủ ma túy và giao cho B, B giao lại ma túy cho V. V bán lại 100 gam ma túy đá cho Q2 với giá 35.500.000 đồng.
Lần thứ 5: Ngày 15/11/2021, V gọi điện hỏi B mua 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng. B đồng ý. B bảo V chuyển tiền vào tài khoản của N (vợ B). V chuyển 37.000.000 đồng vào tài khoản của N (gồm 34.000.000 đồng để mua 100 gam ma túy đá và 3.000.000 đồng trả nợ B). B nhờ N chuyển 32.800.000 đồng vào tài khoản của D để mua 100 gam ma túy đá và nợ lại Dung 200.000 đồng. Sau khi nhận tiền, D chuyển 29.000.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua 100 gam ma túy đá của Q1. Sau đó D nhận đủ ma túy và đã giao cho B, B giao lại ma túy cho V. V bán lại 100 gam ma túy đá cho Q2 với giá 35.000.000 đồng.
Lần thứ 6: Ngày 11/12/2021, V gọi điện hỏi B mua 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng, B đồng ý. V chuyển 36.000.000 đồng vào tài khoản của B (gồm 34.000.000 đồng để mua 100 gam ma túy đá và 2.000.000 đồng trả nợ B). B chuyển 33.000.000 đồng vào tài khoản của D để mua 100 gam ma túy đá. Sau khi nhận tiền, D chuyển 29.000.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua 100 gam ma túy đá của Q1. D nhận được ma túy đá của Q1 và đã giao cho B, B giao lại ma túy cho V. Sau đó V hỏi mua tiếp của B 100 gam ma túy đá nữa. B liên lạc với D và ứng thêm 33.000.000 đồng của B chuyển vào tài khoản của D để mua thêm 100 gam ma túy đá nữa. D đã chuyển tiếp thêm 29.000.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua thêm 100 gam ma túy đá của Q1. Hai ngày D nhận được 100 gam ma túy đá của Q1 giao cho B và B giao lại cho V. V bán lại 100 gam ma túy đá cho Q2 với giá 35.500.000 đồng.
Lần thứ 7: Ngày 17/12/2021, Phạm Thị T2 gọi điện hỏi mua của D 50 gam ma túy đá với giá 16.500.000 đồng. D đồng ý. D đã chuyển 14.500.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua 50 gam ma túy đá của Q1. Q1 đưa 50 gam ma túy đá cho Tuấn A mang đến nhà D giao cho D vào khoảng 14 giờ ngày 17/12/2021. Q1 trả công cho Tuấn A 200.000 đồng. D nhận được ma túy đã bán hết cho T2.
Lần thứ 8: Ngày 23/12/2021, V hỏi B mua 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng, B đồng ý. V chuyển 36.000.000 đồng vào tài khoản cho B (gồm 34.000.000 đồng để mua 100 gam ma túy đá và 2.000.000 đồng trả nợ B). B chuyển 33.000.000 đồng vào tài khoản cho D để mua 100 gam ma túy đá. Lúc đó, Phạm Thị T2 cũng hỏi D mua 50 gam ma túy đá nên D đã hỏi mua 150 gam ma túy đá của Q1 với giá 43.500.000 đồng. Q1 đồng ý. D chuyển khoản trước cho Q1 40.000.000 đồng để mua ma túy. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/12/2021, Q1 bảo Tuấn A mang 150 gam ma túy đá đến bán cho D. Q1 trả công cho Tuấn A 400.000 đồng. D nhận được ma túy đá đã bán cho Phạm Thị T2 50 gam ma túy đá, bán cho B 100 gam ma túy đá. Bình bán lại cho V 100 gam ma túy đá. Sau khi nhận ma túy, V bán lại cho Q2 nhưng Q2 chê chất lượng ma túy kém không mua. Ngày 25/12/2021 B gặp V lấy lại số ma túy đưa cho D để đổi ma túy mới. D mang số ma túy B trả đến nhà Q1 đổi lại ma túy mới và đưa lại cho B. B đưa ma túy mới cho V nhưng V vẫn chê chất lượng kém nên trả lại B. B trả lại ma túy cho D, D báo lại Q1 và Q1 đã cho Tuấn A đến lấy lại số ma túy và 29.000.000 đồng D nợ Q1. Q1 trả công cho Tuấn A 300.000 đồng. D đã trả lại tiền mua ma túy cho B bằng cách chuyển 25.000.000 đồng vào tài khoản của V, chuyển 5.000.000 đồng vào tài khoản của B, D còn nợ B 3.000.000 đồng. B đã trả 5.000.000 đồng tiền mặt cho V và bù thêm 3.000.000 đồng (tiền D nợ lại) để trả V.
Lần thứ 9: Ngày 05/01/2022, V hỏi B mua 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng. B đồng ý. V chuyển 34.000.000 đồng vào tài khoản của B. B chuyển 30.000.000 đồng vào tài khoản của D để mua 100 gam ma túy đá vì D vẫn nợ B 3.000.000 đồng. D gọi điện cho Q1 hỏi mua 200 gam ma túy đá (để bán cho B 100 gam và để bán cho khách 100 gam nếu có khách mua). Q1 đồng ý. Đến khoảng 23 giờ ngày 05/01/2022, Q1 bảo Tuấn A mang 200 gam ma túy đá đến bán cho D, Tuấn A đồng ý. Tại thời điểm đó, D hẹn B đến nhà D để nhận ma túy. Trong lúc D và B ngồi đợi Tuấn A mang ma túy đến để mua bán thì Cơ quan Công an đến giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với D và đưa B về trụ sở để làm việc. Tuấn A mang ma túy đến nhà D chưa kịp giao cho D đã bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ tại võng xe máy do Tuấn A điều khiển một hộp giấy 02 túi nilon chứa 200 gam ma túy đá Tuấn A mang đến bán cho D và thu giữ tại túi áo của Tuấn A 01 túi ma túy đá do Q1 trả công cho Tuấn A để sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra Đỗ Thị D khai nhận: D đã nhiều lần mua ma túy đá của Nguyễn Thị Kim Q1 để bán kiếm lời. Khi có khách mua ma túy đá thì D gọi điện cho Q1 hỏi mua ma túy. Nếu Q1 đồng ý bán thì D chuyển tiền mua ma túy đá vào số tài khoản của Q1. Q1 cho người mang ma túy đến nhà giao cho D, trong đó có 03 lần Đặng Tuấn A mang ma túy đá đến nhà giao cho D. Quỳnh bán ma túy đá với giá 29.000.000 đồng 100 gam. Từ 16/10/2021 đến 05/01/2022, D đã 9 lần chuyển tổng số 239.500.000 đồng vào tài khoản của Q1 để mua 1.100 gam ma túy để bán cho B, T2 và khách mua. D đã hai lần bán ma túy đá cho T2 mỗi lần 50gam ma túy đá với giá 16.500.000 đồng và 09 lần bán ma túy đá cho Phương B, mỗi lần 100 gam ma túy đá với giá 33.000.000 đồng, trong đó có 01 lần sau khi nhận ma túy, B chê chất lượng, B trả lại ma túy, lấy lại tiền và 01 lần đang đợi Tuấn A mang ma túy đến giao cho B thì bị bắt.
Ngô Trương Phương B khai nhận: Qua quan hệ xã hội Ngô Trương Phương B biết Đỗ Thị D có bán ma túy đá nên Ngô Trương Phương B đã mua ma túy đá của D và bán lại Nguyễn Thị Hồng V kiếm lời. B mua của D 100 gam ma túy đá với giá 33.000.000 đồng và bán lại cho V với giá 34.000.000 đồng. B biết V mua ma túy của B cũng để bán lại cho khách mua. Mỗi khi V gọi điện hỏi B mua ma túy đá thì B gọi điện hỏi mua ma túy đá của D, nếu D có ma túy bán thì B bảo V chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của D hoặc bảo V chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của B hay tài khoản của Nguyễn Thị Kim N (vợ B), sau đó B chuyển tiền mua ma túy đá vào tài khoản của D rồi B đến nhà gặp D nhận ma túy về bán lại cho V. B khai từ 16/10/2021 đến 05/01/2022 B đã 5 lần trực tiếp chuyển tiền vào tài khoản của D, 02 lần đưa tiền trực tiếp cho D và 2 lần bảo V chuyển tiền vào tài khoản của D, 02 lần nhờ N (vợ B) chuyển tiền vào tài khoản của D. Tổng cộng B đã chuyển số tiền là 294.130.000 đồng để mua 900 gam ma túy đá.
Nguyễn Thị Hồng V khai nhận: Qua quan hệ xã hội, V quen một người nam giới tên Q2 (không rõ lai lịch) muốn mua ma túy đá. V biết Ngô Trương Phương Bình B2 100 gam ma túy đá với giá 34.000.000 đồng nên V đã nhiều lần mua ma túy đá của Bình bán lại cho Q2 với giá từ 35.000.000 đồng đến 35.500.000 đồng. Từ 16/10/2021 đến ngày 05/01/2022, V đã 3 lần chuyển tiền tổng số 106.000.000 đồng vào tài khoản của Ngô Trương Phương B; 2 lần chuyển tổng số 58.000.000 đồng vào tài khoản của Đỗ Thị D; 3 lần chuyển tổng số 109.000.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Thị Kim N (vợ B) theo số tài khoản B cho và 3 lần trực tiếp đưa cho B tổng số 44.000.000 đồng. Tổng cộng cả chuyển tiền qua tài khoản và tiền mặt cho Ngô Trương Phương B là 317.000.000 đồng để mua tổng số 900 gam ma túy đá để bán cho bán lại cho Q2.
Về nguồn gốc số ma túy 12,4 gam Methamphetamine thu giữ khi khám xét nơi ở của V ngày 24/10/2022 V khai là V mua của Ngô Trương Phương B vào thời điểm trước khi B bị bắt và đã bán cho Q2 nhưng sau đó Q2 chê chất lượng ma túy kém nên đã trả lại V để đổi lại ma túy, do B bị bắt nên V không đổi lại được, do đó V vẫn cất giấu số ma túy này tại nơi ở của V.
Đặng Tuấn A khai nhận: Tuấn A quen biết Nguyễn Thị Kim Q1 từ khoảng ba tháng trước ngày bị bắt. Do không có việc làm ổn định nên Tuấn A đã nhiều lần đem ma túy đi bán cho khách giúp Q1 để lấy tiền công. Mỗi lần đem ma túy đi bán cho khách Tuấn A được Q1 trả công bằng tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng hoặc trả công bằng ma túy. Khi có khách hỏi mua ma túy thì Q1 gọi điện bảo Tuấn A đến nhà Q1 ở đường C, quận L, thành phố Hải Phòng và Q1 trực tiếp đưa ma túy cho Tuấn A đem đi bán cho khách. Lần cuối là khoảng 23 giờ ngày 05/01/2022, Q1 bảo Tuấn A mang 200 gam ma túy đá đến bán cho D và được Q1 trả công cho Tuấn A một túi ma túy đá. Tuấn A để túi ma túy đá Q1 trả công ở túi áo ngực với mục đích sử dụng. Tuấn A đi đến nhà D chưa kịp giao ma túy bán cho D thì đã bị Cơ quan Công an bắt thu giữ toàn bộ ma túy.
Nguyễn Thị Kim Q1 khai nhận toàn bộ hành vi như trên; về nguồn gốc ma túy Q1 bán cho D và trả công cho Tuấn A là mua của một người phụ nữ tên L không rõ lai lịch ở đường tàu Trần Nguyên H2.
Ngày 28/04/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xét xử vụ án và bị cáo Đỗ Thị D đã khai D phạm tội trong khi có thai và sảy thai trong khi tạm giam, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tại Kết luận giám định số 507 ngày 02/08/2023, Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: Đỗ Thị D mang thai khoảng tháng 12/2021, đến ngày 05/01/2022 tuổi thai khoảng 03 tuần tuổi, thai chưa di chuyển và làm tổ trong buồng tử cung; tại thời điểm giám định D không có thai. Xác minh tại trại tạm giam công an thành phố H, thể hiện: Ngày 24/01/2022, Đỗ Thị D nhập trại mang thai tuần thứ 8 với tình trạng sức khỏe ổn định; ngày 10/03/2022, D báo đau bụng, ra máu vùng âm đạo. Cán bộ y tế trại giam đề xuất chuyển D đến bệnh viện K khám và điều trị; Bệnh viện K khám và kết luận D bị sảy thai.
Về vật chứng:
Đối với 01 xe máy biển kiểm soát 15B3 - 806.37 tạm giữ khi bắt quả tang Đặng Tuấn A: Quá trình điều tra xác minh chiếc xe trên đăng ký tên Trịnh Phú D1 ở 4 T, L, Hải Phòng. Tại Cơ quan điều tra Trịnh Phú D1 khai mua chiếc xe máy trên tại một cửa hàng bán xe T, quận L, thành phố Hải Phòng và đăng ký tên D1. Tháng 09/2021, D1 viết giấy bán lại xe cho Đồng Văn C2 chủ cửa hàng mua bán xe máy tại số B T. Đồng Văn C2 khai phù hợp với lời khai D1 và khai ngày 10/09/2021, C2 đã viết giấy bán xe máy cho Nguyễn Đăng L1. Giữa tháng 12/2021, Nguyễn Đăng L1 cho Đặng Tuấn A mượn làm phương tiện đi lại, không biết Tuấn A sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy biển kiểm soát 15B3 - 806.37 cho Nguyễn Đăng L1.
Đối với 01 đầu thu camera tạm giữ khi khám xét đối với Nguyễn Thị Kim Q1 là tài sản của ông Đỗ Tiến C3, sinh năm: 1986, nơi cư trú: Số E Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng (chồng của Nguyễn Thị Kim Q1), sau khi kiểm tra đầu thu không phát hiện dữ liệu liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu, tài sản bằng hình thức trả lại đầu thu cho ông Đỗ Tiến C3.
Những vật chứng là xe máy, ma túy, tiền, điện thoại di động, tài sản, đồ vật khác thu giữ của các bị cáo liên quan đến việc phạm tội chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 22-5-2024, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 40 Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; xử phạt Đỗ Thị D tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Phạt tiền bổ sung bị cáo 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác; xử lý vật chứng; án phí và thông báo quyền quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/5/2024, bị cáo Đỗ Thị D có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.
Ngày 04/6/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có Kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-P1 đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo Đỗ Thị D từ mức án tử hình xống mức tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được giảm hình phạt từ tử hình sang chung thân, đồng thời thể hiện thái độ đã thực sự ăn năn hối cải và trình bày việc có thai, nhưng sau khi bị bắt thì bị sẩy thai, trình bày hoàn cảnh quá khó khăn như có 04 con còn nhỏ đang ở với ông bà ngoại đã già yếu, có chồng nghiện ngập và đang ở tù.
Luật sư bào chữa của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; tại phiên tòa có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội khi đang có thai và hoàn cảnh là rất khó khăn như bị cáo đã trình bày để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích đánh giá nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội; tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ; quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, kết luận: Bị cáo Đỗ Thị D bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; sau khi xét xử sơ thẩm đã tự nguyện chấp hành xong phần hình phạt bổ sung và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; khi phạm tội bị cáo là phụ nữ có thai, nên có cơ sở để không phạt tử hình đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và xem xét chuyển hình phạt đối với bị cáo từ tử hình sang hình phạt tù chung thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị D và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 22-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng là hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Thị D:
[2.1] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, những lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo và các bị cáo khác tại cơ quan điều tra; lời khai của những người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biên bản khám xét; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Trong thời gian từ ngày 16/10/2021 đến ngày 05/01/2022, Đỗ Thị D nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời, với tổng khối lượng là 1.099,71 gam ma túy Methamphetamine, gồm: 199,71 gam Methamphetamine Tuấn A mang đến bán cho D bị bắt quả tang; 900 gam Methamphetamine bán cho Ngô Trương Phương B vào các ngày 16/10/2021, 22/10/2021, 02/11/2021, 11/11/2021, 15/11/2021, 11/12/2021, 23/12/2021; bán cho Phạm Thị T2 các ngày 17/12/2021, 23/12/2021.
[2.2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, với khối lượng chất ma túy mua bán trái phép 1.099,71 gam Methamphetamine; phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo và kháng nghị:
[3.1] Bị cáo Đỗ Thị D nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý; quá trình giải quyết vụ án thành khẩn khai báo; khi phạm tội đang có thai, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Người phạm tội là phụ nữ có thai” theo quy định tại điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Căn cứ khối lượng ma túy mà bị cáo mua bán trái phép, Tòa án cấp sơ thẩm phạt bị cáo mức án cao nhất là phù hợp.
[3.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp số tiền phạt bổ sung là 50.000.000 đồng và tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm thể hiện sự ăn năn hối cải, đồng thời có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình éo le, rất khó khăn, chồng nghiện ngập, hiện đang ở tù; có 04 con nhỏ đang ở với ông bà ngoại (bố mẹ bị cáo) đã già yếu (có xác nhận của chính quyền địa phương). Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là đã phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng như nhận định trên, nhưng xét hoàn cảnh phạm tội của bị cáo là do hám lợi nhất thời nhằm mục đích giải quyết khó khăn của gia đình; hơn nữa khi phạm tội bị cáo là phụ nữ có thai, chưa có tiền án, tiền sự, đồng thời hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên có phần ảnh hưởng đến tâm lý và nhận thức của bị cáo trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, xét bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (bao gồm các tình tiết mới tại cấp phúc thẩm, chưa được áp dụng khi xét xử sơ thẩm); xét tính chất của các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có thể giảm nhẹ được cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[3.3] Từ những nhận định trên, xét nhân thân, hoàn cảnh, điều kiện phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị D, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng về nội dung đề nghị giảm hình phạt là có cơ sở để xem xét chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
[5] Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm theo biên lai thu tiền có trong hồ sơ vụ án.
[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 22-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, về phần hình phạt đối với Đỗ Thị D.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị D tù Chung thân, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ, tạm giam là ngày 05/01/2022.
2. Xác nhận bị cáo Đỗ Thị D đã nộp 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền phạt tại Biên lai thu tiền số 0000281 ngày 09/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Thị D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xác nhận bị cáo D đã nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0000278 ngày 09/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Hưng |
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Xuân Thảo Nguyễn Hải Thanh |
Hồ Sỹ Hưng |
Bản án số 778/2024/HS-PT ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 778/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị D - Mua bán trái phép chất a túy
